Tìm hiểu về hiệu ứng Halo và tác động của nó tới công việc

Các định nghĩa về hiệu ứng Halo

Hallo Effect (hiệu ứng Halo) là một thành kiến nhận thức (Cognitive bias) ám chỉ ấn tượng tổng thể về một người sẽ tác động tới cách chúng ta cảm thấy và nghĩ như thế nào về tính cách của họ.

Về cơ bản, ấn tượng chung của bạn về một người (chẳng hạn, “anh ta đẹp”) sẽ tác động tới những đánh giá của bạn về đặc điểm cụ thể của người đó (chẳng hạn, “anh ta thông minh”).

Một ví dụ điển hình của hiệu ứng Halo trong thực tiễn đó là ấn tượng chung của chúng ta về người nổi tiếng. Vì chúng ta thừa nhận họ là những người hấp dẫn, thành công và ai cũng thích nên chúng ta có xu hướng đánh giá họ cũng thông minh, tốt bụng và hài hước

“Được biết đến như một thành kiến về sự hấp dẫn về mặt hình thể và nguyên tắc “thứ gì đẹp thì cũng tốt”, hiệu ứng Halo – ở cấp độ cụ thể nhất ám chỉ khuynh hướng mang tính chất thói quen của con người trong việc đánh giá các cá nhân sở hữu vẻ ngoài hấp dẫn sẽ có nhiều điểm tốt đẹp hơn về đặc điểm hoặc tính cách so với những người bình thường. Hiệu ứng này cũng được sử dụng trong những tình huống phổ biến hơn khi muốn mô tả tác động chung của một tính cách được yêu thích hoặc một vài đặc điểm cụ thể mà ai cũng khao khát có được trong việc tạo ra những phán xét sai lệch về một người khi nhìn nhận theo một khía cạnh nào đó. Do đó, thông thường, nhận thức đã bị cảm xúc lấn át khi đánh giá người khác” (Sách bách khoa toàn thư SAGE về các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội, quyển 1, xuất bản năm 2004).

Người hấp dẫn

Nhà tâm lý học Edward Thorndike lần đầu tiên đề xuất thuật ngữ này trong một bài báo được xuất bản vào năm 1920 với tựa đề “The Constant Error in Psychological Ratings”(Tạm dịch: Sai lầm không thể thay đổi trong các đánh giá về mặt tâm lý). Theo đó, Thorndike đã dẫn chứng bằng một thử nghiệm trong đó có sự tham gia của những người làm việc trong quân đội và ông yêu cầu họ đánh giá một loạt các phẩm chất của cấp dưới, bao gồm hình thể, khả năng lãnh đạo, trí thông minh, mức độ trung thành và đáng tin cậy.

Mục tiêu của Thorndike đó là xác định các đánh giá về một phẩm chất sẽ tác động tới các đánh giá về những phẩm chất khác như thế nào. Kết quả thu được đã cho ông một kết luận rằng những đánh giá cao về một phẩm chất đặc biệt tương quan với những đánh giá cao về những phẩm chất khác, trong khi đó, các đánh giá tiêu cực về một đặc điểm cụ thể cũng dẫn tới các nhận xét tiêu cực về những tính cách khác.

Lợi thế của sự hấp dẫn

Vậy thì tại sao ấn tượng tổng thể về một người lại có thể tạo ra một hiệu ứng mà tác động tới cách chúng ta đánh giá những phẩm chất cụ thể về họ? Theo nhiều nhà nghiên cứu thì sự hấp dẫn là nhân tố đóng vai trò quyết định. Cụ thể, khi chúng ta đánh giá mọi người đẹp thì chúng ta cũng có xu hướng tin rằng họ sở hữu các đặc điểm về tính cách rất tốt và dường như họ cũng thông minh hơn.

Thậm chí, một nghiên cứu khác cũng cho rằng các thành viên ban hội thẩm cũng ít khi tin rằng những người hấp dẫn không tuân thủ quy định pháp luật và phạm tội.

Tuy nhiên, thành kiến về sự hấp dẫn cũng là “lưỡi dao hai mặt”. Bởi theo một số nghiên cứu thì mặc dù mọi người nhiều khả năng sẽ gán cho người hấp dẫn một loạt các đặc điểm tích cực nhưng họ cũng có xu hướng tin rằng những người có vẻ ngoài đẹp đó dễ tự phụ, kiêu ngạo, không trung thực và hay sử dụng sự hấp dẫn của mình để lợi dụng người khác.

Trong lớp học, các giáo viên dễ bị hiệu ứng halo chi phối trong việc đánh giá học sinh. Chẳng hạn, nếu nhìn thấy một học sinh ngoan ngoãn thì họ cũng có xu hướng cho rằng đứa trẻ đó sáng dạ, thông minh, cần mẫn trước khi có những đánh giá khách quan về khả năng học tập thực tế. Hiển nhiên, điều này có thể dẫn tới những đánh giá sai lệch về điểm số.

Không những vậy, hiệu ứng halo còn tác động tới cách mà học sinh đánh giá giáo viên. Trong một cuộc điều tra, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy rằng khi người hướng dẫn được cho là ấm áp và thân thiện thì học sinh cũng mặc nhiên cho rằng giáo viên này hấp dẫn, lôi cuốn và dễ gần hơn.

Halo Effect

Với những thương hiệu đã có tên tuổi, hiệu ứng Halo tạo cho họ có một lợi thế cạnh tranh rất lớn khi xâm nhập thị trường mới. Chẳng hạn, thị trường thức ăn nhanh sẽ chưa lên cơn sốt nếu như chưa có bóng dáng của McDonald dù khi đó, KFC, Lotteria cũng là những đối thủ không thể xem nhẹ. Có thể nói, hiệu ứng này là hệ quả của một quá trình đầu tư xây dựng hình ảnh thương hiệu một cách bài bản và đó cũng là phần thưởng dành cho những doanh nghiệp có tầm nhìn và sớm nhận ra giá trị to lớn của thương hiệu.

Từ nhà báo, nhà văn, người làm quảng cáo cho tới ứng viên xin việc, từ cấp trên tới cấp dưới, hiệu ứng halo đều có những ý nghĩa nhất định. Nếu bạn là một nhà báo có tiếng thì cơ hội để những bài viết của bạn sớm được đăng tải, thậm chí là lên trang nhất là rất cao. Nếu là một ứng viên sở hữu vẻ ngoài sáng sủa, hấp dẫn thì cơ hội được nhà tuyển dụng là rất lớn.

Biết cách tận dụng hiệu ứng halo là điều tốt nhưng cũng đừng lạm dụng nó bởi vì bạn dễ dàng sẽ có những đánh giá phiến diện về một người. Đồng thời, không nên cố xây dựng vẻ ngoài hào nhoáng, hấp dẫn để rồi làm mất đi hoặc bỏ qua con người thật của bạn.

Xấu cũng là cái tội? Lỗi khiến sếp không bao giờ đánh giá cao bạn là ở đây.

Ảnh minh họa
Hiệu ứng hào quang là một loại thiên vị nhận thức trong đó ấn tượng tổng thể của chúng ta về một người ảnh hưởng đến cách chúng ta cảm nhận và suy nghĩ về tính cách của người đó. Cơ bản như là ấn tượng tổng thể của bạn về một người (“Anh ta thật tử tế”) tác động đến đánh giá của bạn về người đó (“Anh ấy cũng thông minh”).

Một ví dụ tuyệt vời về hiệu ứng này là ấn tượng của chúng ta về người nổi tiếng. Do chúng ra cảm nhận rằng họ hấp dẫn, thành công và dễ mến nên chúng ta có xu hướng cho rằng họ thông minh, tốt bụng và hài hước.

Lịch sử của hiệu ứng Halo

Nhà tâm lý học Edward Thorndike lần đầu tiên đưa ra thuật ngữ này trong một bài báo năm 1920 với tiêu đề “The Constant Error in Psychological Ratings”. Trong thí nghiệm được mô tả trong bài báo, Thorndike yêu cầu các cán bộ chỉ huy trong quân đội đánh giá một loạt các phẩm chất của những người lính cấp dưới.

Những đặc điểm được đánh giá bao gồm khả năng lãnh đạo, ngoại hình, trí thông minh, lòng trung thành và tin cậy.

Ông thấy rằng việc một phẩm chất được xếp hạng cao sẽ dẫn đến các phẩm chất khác được xếp hạng cao, trong khi nếu có những điều bị đánh giá tiêu cực thì dẫn đến một số đặc điểm bị xếp hạng thấp hơn.

Vậy tại sao ấn tượng tổng thể của chúng ta về một người lại tạo ra “vầng hào quang”, gây ảnh hưởng đến đánh giá của chúng ta về những đặc điểm cụ thể? Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy ở đây có vai trò của sức hấp dẫn. Nhiều nhà nghiên cứu khác đã nhận thấy rằng nếu một người được đánh giá là ưa nhìn thì chúng ta có xu hướng tin tưởng rằng họ có những tính cách tích cực và là con người thông minh.

Một nghiên cứu thậm chí còn phát hiện rằng các bồi thẩm viên thường ít tin rằng những người đẹp trai, xinh xắn có hành vi phạm tội.

Hiệu ứng trong đời sống

Trong lớp học, các giáo viên có thể bị hiệu ứng này ảnh hưởng đến việc đánh giá học sinh. Ví dụ, một học sinh có cách cư xử tốt cũng thường được giáo viên cho rằng là người thông minh, siêng năng trước khi giáo viên bắt đầu đánh giá năng lực cụ thể. Khi hiệu ứng hào quang xảy ra, chúng có thể làm ảnh hưởng đến việc đánh giá học sinh trên một vài phương diện, thậm chí là điểm của học sinh.

Hiệu ứng hào quang có thể ảnh hưởng đến cách giáo viên đối xử với học sinh và cũng đồng thời là việc sinh viên đánh giá về giáo viên. Một nghiên cứu chỉ ra rằng một giáo viên ấm áp và thân thiện thường được đánh giá là hấp dẫn, lôi cuốn và dễ thương hơn.

Trong môi trường làm việc, hiệu ứng hào quang ảnh hưởng đến việc đánh giá công việc của cấp trên với cấp dưới. Trong thực tế, hiệu ứng hào quang là thiên vị phổ biến nhất trong đánh giá hiệu quả. Cấp trên có thể đề cao một đặc điểm duy nhất của nhân viên, chẳng hạn như sự nhiệt tình. Nhưng điều này hoàn toàn có thể khiến các đánh giá còn lại trở nên tích cực hơn.

Mặc dù nhân viên này có thể thiếu kiến thức cần thiết hay khả năng để hoàn thành tốt công việc nhưng nếu anh ta thể hiện được sự nhiệt tình, cấp trên sẽ vui vẻ đánh giá hiệu suất làm việc của anh ta cao hơn kiến thức hoặc khả năng vốn có.

Các nhân viên tiếp thị có thể tận dụng lợi thế của hiệu ứng hào quang để bán sản phẩm và dịch vụ. Khi một người nổi tiếng trở thành đại diện thương hiệu cho một sản phẩm cụ thể, đánh giá tích cực của chúng ta về cá nhân đó có thể ảnh hưởng đến nhận thức của chúng ta về bản thân sản phẩm.

Các ứng viên cũng dễ cảm nhận được tác động của hiệu ứng này. Nếu nhà tuyển dụng cảm thấy ứng viên hấp dẫn hay dễ nhìn, họ cũng dễ đánh giá cá nhân đó là một người thông minh, có năng lực và trình độ chuyên môn.

Một ấn tượng tổng thể của bạn về một cá nhân có thể ảnh hưởng đến đánh giá của bạn về các đặc điểm khác. Hiểu về hiệu ứng này nhưng đừng để nó làm ảnh hưởng đến nhận thức và quyết định của chính bạn.Theo Trí Thức Trẻ

The Halo Effect hay là hiệu ứng “Tôi nổi tiếng nên tôi nói anh phải nghe”

DECEMBER 9, 2017 ~ CONMOTSACH

HaloEffect.png

Một chàng X vô tình gặp một người lạ ăn mặt xuềnh xoàng trước mặt đang nói chuyện với vài bạn trẻ trẻ đang chăm chú lắng nghe,  X thử lắng nghe câu chuyện của họ thì X cảm thấy nội dung cũng bình thường thôi. Cũng vài ba lời khuyên thế này thế kia rằng muốn làm giàu thì phải nhẫn nại, phải “kiên gan bền chí”. Rằng việc học ở trường không phải là duy nhất, mà phải học ở ngoài cuộc sống. Phải luôn luôn quan sát những người xung quanh và học tập từ họ…. đại loại là những điều X nghe từ người xung quanh cũng nhiều.

Nhưng rồi, dần dần X bắt đầu thấy gương mặt của người lạ này hơi quen quen. À, ông ta đã xuất hiện trên báo, là một tỷ phú có khối tài sản hàng tỉ đô la. Và thế là X bắt đầu chú tâm hơn vào những điều ông nói. Và X bắt đầu gật gù với những lời ông tỷ phú dạy.

Điều X đã phạm phải, chính là “halo effect“, hay còn gọi là “Ai nổi tiếng thì họ sẽ nói đúng”.

Halo Effect là một loại xu hướng nhận thức được khám phá bở nhà tâm lý học Edward Lee Thorndike.

Trong các nghiên cứu của mình, Edward đã phát hiện ra rằng một vài yếu tố đặc trưng như sắc đẹp, tuổi, danh tiếng, khả năng tài chính, … thường có tác động mạnh đến nhận thức của người đối diện dẫn đến những phán đoán sai lầm về một khía cạnh nào đó khác của họ.

Giống như lâu lâu trên báo chúng ta lại hay thấy: “Hãy cùng chọn mắt kính với diễn viên X”, hay là “KInh nghiệm đi A-B-C theo người mẫu Y”, … cũng là những bài viết lạm dụng hiệu ứng này. Việc gắn một điều gì đó với một người nổi tiếng, chính là đang dẫn dắt tâm lý của người đọc, khiến cho chúng ta cảm nhận sai lệch về độ tin cậy của nội dung. Dù sao thì: Diễn viên X chắc gì đã là chuyên gia thời trang, người mẫu Y chắc gì đã là hiểu biết du lịch?

Gần gũi hơn, lâu lâu một vài nhân vật nổi tiếng sang Việt Nam, thế là báo chí và cộng đồng sẽ lại có dịp tận dụng Halo Effect để tung hô những câu nói, những quan điểm của họ. Nhưng thử nhìn lại những gì họ nói, họ nhận định xem. Cũng đâu có gì mới khi bạn cũng sẽ gặp hàng ngày những con người đáng kính trọng và cũng nêu ra cùng thứ quan điểm đó. Có lẽ cái khác là những con người kia lặng lẽ và âm thầm hơn. Dân gian ta có câu “Bụt chùa nhà không thiêng” có lẽ cũng là vậy.

Thế nên, nếu lần sau mà bạn cảm thấy mình đang tin một ai đó, xem trọng ý kiến của một ai đó nhiều chỉ vì họ nổi tiếng, họ có tiền, … thì có lẽ bạn cần dừng lại và suy ngẫm lại nhận định của mình xem ý kiến của họ có thực sự hợp lý, hợp logic không. Cũng như cần xem xét lĩnh vực họ nêu ý kiến ra liệu có phải là chuyên môn của mình không?

Một câu nói mà thằng bạn thân của mình đã từng nói với mình từ hồi cấp 2, đến giờ vẫn còn nhớ: “Mày đừng nghĩ mày học giỏi thì nói cái gì cũng đúng”.

Ừ thì nó nói cũng đúng thật.

Xem thêm: Déformation Professionnelle

Hiệu ứng lan tỏa (Halo Effect) và ứng dụng thuật tâm lý trong marketing  Lưu

Chu Đăng Điệp
Digital Account Executive, Học viện ngôn ngữ anh quốc ABIT

Bạn có thấy rằng những người có vẻ ngoài chỉnh chu, sang trọng thường được xem là thành công và tài năng hơn không ? Mặc dù điều đó chưa hẳn đúng nhưng con người ta nhiều khi rất phi lý trí. Hiệu ứng lan tỏa (Halo Effect) chỉ ra rằng: “Nếu bạn có ấn tượng tốt với một người thì bạn có xu hướng sẽ “nhìn” vào điểm tốt của người ấy . Khi có ấn tượng xấu thì bạn thường nỗ lực nhìn cái xấu của người khác mà không thèm để ý đến ưu điểm của họ”. Hiểu về hiệu ứng tâm lý này của con người ta có thể giải thích được nhiều hiện tượng thú vị trong kinh doanh.

Với những thương hiệu đã có tên tuổi, hiệu ứng lan tỏa (Halo effect) tạo cho bạn một lợi thế cạnh tranh rất lớn khi xâm nhập thị trường mới. Thị trường thức ăn nhanh sẽ vẫn chưa lên cơn sốt nếu chưa có bóng dáng của McDonald dù hiện tại các anh hào KFC, Lotteria, Jollibee cũng không phải loại vừa, thị trường bán lẻ từ Co-op mart, Big C, Metro, Lotte Mart, rồi E-mart sẽ vẫn tạm hiền hòa cho đến khi Wal-mart xuất hiện (hiện giờ là chưa) và thị trường cà phê cũng không ngoại lệ khi cuộc chơi bắt đầu nóng lên khi Starbucks đến Việt Nam. Hiệu ứng Halo là hệ quả của quá trình đầu tư xây dựng hình ảnh thương hiệu một cách bài bản, nghiêm túc. Đây là phần thưởng cho những doanh nghiệp có tầm nhìn và sớm nhận ra giá trị to lớn của thương hiệu.

Để tạo được hiệu ứng lan tỏa thì ấn tượng lần đầu tiên là vô cùng quan trọng. Trong marketing, thành công phi thường của Apple là môt ví dụ điển hình ? Ấn tượng đầu tiên của Apple chính là iPod. Thời kỳ đầu, họ liên tục “dội bom” công chúng với quảng cáo TV, báo và billboards chào hàng máy nghe nhạc iPod. Và kết quả rất ấn tượng. Apple chiếm 73.9% thị phần nhạc số. Thương hiệu iPod mạnh đến nỗi hầu như không ai nhớ ra thương hiệu thứ 2 sau iPod là gì. Thế những hoạt động marketing hỗ trợ cho dòng sản phẩm máy tính cá nhân của Apple là gì? Câu trả lời là : Không đáng kể. Đây chính là mấu chốt. Apple đã dồn mọi ngân sách marketing cho iPod, tạo ra hiệu ứng lan tỏa bao phủ cho mọi dòng sản phẩm khác.

Trong truyền thông, báo chí: Ấn tượng ban đầu với nhà báo là vô cùng quan trọng. Điều đó ảnh hưởng nhiều đến giọng điệu mà báo chí dành cho doanh nghiệp của bạn là tích cực hay tiêu cực. Liệu bài của bạn gửi đến tòa soạn được đăng hay bị quăng ngay vào thùng rác không thương tiếc, yếu tố quyết định chính là thông tin lần đầu tiên bạn đưa ra công chúng có đủ ấn tượng và trong buổi họp báo đầu tiên bạn có để lại cảm tình tốt với các nhà báo được mời. Hãy chăm chút thật kĩ cho lần đầu tiên.

Hiệu ứng lan tỏa là một trong những phát hiện thú vị trong tâm lý học. Hãy sử dụng nó như một công cụ khôn ngoan để đạt được mục đích của cá nhân và doanh nghiệp.

Đối với những ai còn đang lâng lâng tâm đắc với những bí quyết thành công được viết ra trong những cuốn sách kinh doanh nhan nhản hiện nay thì có lẽ Hiệu ứng Hào quang (Halo Effect) của Giáo sư Phil Rosenzweig là một gáo nước lạnh.

Đối với những ai còn đang lâng lâng tâm đắc với những bí quyết thành công được viết ra trong những cuốn sách kinh doanh nhan nhản hiện nay thì có lẽ Hiệu ứng Hào quang (Halo Effect) của Giáo sư Phil Rosenzweig là một gáo nước lạnh. Gáo nước không thèm đổ vào những cuốn sách thông thường mà ụp xuống đầu những “quả bom tấn” đang được giới CEO ca ngợi nhiệt liệt.

Tên sách: HIỆU ỨNG HÀO QUANG
Tác giả: Phil Rosenzweig
Người dịch: Trịnh Thanh Thủy
Phát hành: VNN Publishing & NXB Tri thức

*****

Kẻ phá bĩnh

Steve Ballmer, thủ lĩnh của Microsoft nói rằng ông gối đầu giường cuốn sách Từ Tốt đến Vĩ đại (Good to Great) của tác giả Jim Collins. Không chỉ Ballmer, CEO khắp nơi trên thế giới tìm đọc cuốn sách của Jim Collins để tìm hiểu “công thức” xây dựng một công ty vĩ đại.

Từ Tốt đến Vĩ đại cùng với cuốn Xây dựng để trường tồn của Collins đều đã được dịch ra tiếng Việt. Có lẽ đó là hai cuốn sách kinh doanh được các giám đốc ở Việt Nam đọc và bàn tán nhiều nhất.

Trong khi thế giới đang tung hô Jim Collins diễn thuyết trên bục thì có một người lại ném lên đó “một chiếc giầy”. Kẻ phá bĩnh đó là Phil Rosenzweig, Giáo sư Viện Phát triển quản lý quốc tế (IMD); và chiếc giày đó là cuốn Hiệu ứng Hào quang.

Không chỉ Jim Collins, chiếc giầy còn được ném về phía nhiều tác giả khác là các giáo sư quản trị kinh doanh, các nhà nghiên cứu quản trị cũng như một số tác giả sách bán chạy nhất trong lĩnh vực quản trị doanh nghiệp. Một mũi tên bắn nhiều con chim, Phil Rosenzweig đã nhập vai một người “chọc gậy bánh xe” hoàn hảo khi phê phán tất cả các thể loại công thức thành công chỉ là những ảo vọng.

“Cô gái” khác… “bà già”

“Điểm khác biệt giữa một quý bà và một cô gái không phải ở cách xử thế của họ, mà ở cách họ được đối xử như thế nào.” Rosenzweig trích dẫn câu nói dí dỏm của Bernard Shaw trong cuốn sách.

Đàn ông vây quanh, nhìn ngắm, ngưỡng mộ những cô gái trẻ đẹp, chẳng ai làm thế với một bà già. Tất nhiên rồi, với các công ty cũng thế, báo chí tôn vinh, ca ngợi các công ty thành công và CEO của nó lên tận mây xanh. Còn những công ty thất bại thì đương nhiên chẳng ma nào đoái hoài tới.

Công ty thành công nào mà chẳng được ngợi ca rằng có những giám đốc táo bạo, mạnh mẽ, sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm, dám nghĩ dám làm, có tầm nhìn vượt trội, rằng công ty có những chiến lược tập trung, kiên định, thực tế; một nền văn hóa khuyến khích sáng tạo…

Một công ty đang trên đà thành công cũng giống như một cô gái trẻ đẹp vậy, có biết bao người sẽ vây xung quanh bợ đỡ, ca ngợi… Đó chính là một kiểu “hiệu ứng hào quang” Nguồn: crestock.com

Khi một công ty đang ở đỉnh vinh quang, báo chí, nhân viên, đối tác, khách hàng thi nhau tâng bốc họ. Phil Rosenzweig gọi đó là Hiệu ứng hào quang. Chúng ta luôn nhìn thấy quanh những vì sao là một vầng hào quang lấp lánh.

Một số cuốn sách kinh doanh bán chạy nhất hiện nay đều dựa trên dữ liệu nghiên cứu là hàng ngàn bài báo viết về các công ty thành công, cũng như thực hiện hàng trăm cuộc phỏng vấn đối với nhân viên, đối tác của họ. Theo Phil Rosenzweig, người viết sách không thể thu được kết quả chính xác từ những dữ liệu đó bởi tất cả sẽ chỉ là hào quang.

Rosenzweig đưa ra hai ví dụ nghiên cứu là công ty Cisco và công ty ABB. Khi ở trên đỉnh thành công, họ được báo giới và doanh giới ca ngợi như trên. Đến khi hai công ty này xuống dốc, những giám đốc táo bạo ngày nào bỗng bị chê là liều lĩnh, những giám đốc liêm chính ngày nào bỗng biến thành những kẻ tham tiền.

Còn những chiến lược trước đây được khen ngợi là tập trung nay bị gọi là bảo thủ, nền văn hóa công ty trước được coi là gắn kết thì nay bỗng bị phê bằng những từ ngữ nặng nề nhất. Câu chuyện cổ tích thế là tan vỡ…

Phil Rosenzweig cho rằng đa số những cuốn sách tuyên bố đưa ra những bản thiết kế để xây dựng công ty thành công đều chỉ là những câu chuyện cổ tích. Tác giả của nó là người giỏi kể chuyện chứ không phải nhà nghiên cứu khoa học bởi tất cả những dữ liệu đều không mang tính chính xác của khoa học do bị che mờ bởi hiệu ứng hào quang.

Người đọc tất nhiên khoan khoái khi nghe những câu chuyện cổ tích thú vị, họ mơ màng nhìn lên bầu trời đầy sao và tưởng tượng ra vẻ đẹp lung linh của nó. Nhưng tất cả chỉ là ảo tưởng, những vì sao lấp lánh hào quang kia khi đến gần cũng chỉ là lớp đất đá xù xì…

Thầy bói xem voi

Hiệu ứng hào quang chỉ là một trong số nhiều ảo tưởng mà các nhà nghiên cứu kinh doanh mắc phải. Rosenzweig đã chỉ ra tới 8 ảo tưởng khác làm mờ mắt các nhà nghiên cứu, biến họ thành những ông thầy bói xem voi hơn là nhà khoa học.

Một ảo tưởng thú vị khác mà Rosenzweig gọi là ảo tưởng về sự tương quan và quan hệ nhân quả. Ví dụ như một nhà nghiên cứu có thể đưa ra mệnh đề: Đào tạo nguồn nhân lực mạnh là yếu tố then chốt tạo ra thành công của một công ty. Ông ta sẽ liên tục tìm ra mọi dẫn chứng và số liệu để chứng minh cho mệnh đề của mình.

Một bài báo hay thậm chí cả cuốn sách có thể ra đời từ chỉ một mệnh đề đó và đương nhiên, người đọc sẽ bị thuyết phục bởi chất chồng những nghiên cứu tình huống và số liệu thực tế mà nhà nghiên cứu đưa ra. Tuy vậy, cả nhà nghiên cứu và người đọc đều quên một điều: Đào tạo nguồn nhân lực và thành công có mối quan hệ tương quan chứ không hẳn là nhân quả của nhau.

Đúng là đào tạo nguồn nhân lực mạnh có thể sẽ khiến một công ty có nền tảng tốt hơn để phát triển nhưng cũng có thể nhờ công ty phát triển nên mới có tiền nhiều để đào tạo nguồn nhân lực. Hai yếu tố này tương quan với nhau theo kiểu con gà quả trứng, rất khó để minh định xem cái gì tác động tạo ra cái gì. Vội vã kết luận rằng đào tạo nguồn nhân lực là chìa khóa của thành công là một sự nông nổi.

Có vô số yếu tố có khả năng tác động tới hiệu quả và sản sinh thành công cho mỗi doanh nghiệp, không thể vội vàng nhấn mạnh đến một yếu tố duy nhất nào hết – Nguồn: wordpress.com

Còn hơn thế, nguồn nhân lực chỉ là một yếu tố trong vô vàn yếu tố có khả năng tác động tới hiệu quả công ty. Thế còn vô thiên lủng những khía cạnh khác từ: văn hóa công ty, chiến lược cạnh tranh, năng lực tài chính…. thì sẽ đóng góp bao nhiêu phần trăm nữa??? Chỉ một ví dụ đó, Rosenzweig đã cho thấy tính phiến diện của các nghiên cứu, mỗi nghiên cứu chỉ nhìn nhận một yếu tố trong khi thực chất các yếu tố đan xen vào nhau tới mức không thể xác minh rõ ràng chúng tác động tới nhau và tới kết quả chung như thế nào.

Tác giả gọi đó là ảo tưởng bởi những giải thích phiến diện. Mỗi nhà nghiên cứu như một ông thầy bói sờ một con voi và vội vã tuyên bố “phát kiến” của mình. Ngay cả khi mỗi nghiên cứu đơn lẻ được tập hợp thành một bản thiết kế tổng thể thì cũng vẫn còn quá nhiều yếu tố bị bỏ sót. Thực hiện theo những thiết kế đó không bao giờ đảm bảo thành công.

Chuyện thành công hay chuyện cổ tích?

Rosenzweig dẫn lại một nghiên cứu của Michael Porter. Giáo sư chiến lược của Harvard đã nghiên cứu hàng ngàn công ty từ năm 1984 đến 1994 và kết luận rằng những yếu tố riêng biệt nội bộ đó chỉ đóng góp có… 32% cho hoạt động chung. Thế thì 68% còn lại thuộc về cái gì? Nó thuộc về những yếu tố bên ngoài từ bản chất của ngành kinh doanh, quan hệ hợp tác, may mắn và thậm chí là những yếu tố… chưa biết.

Tác giả Phil Rosenzweig – Nguồn: leighbureau.com

Trong môi trường kinh doanh bất định, liên tục bị tác động bởi những yếu tố bên ngoài như đối thủ cạnh tranh, sự thay đổi công nghệ, chính sách vĩ mô… việc vẽ ra một sơ đồ đi tới thành công là một ảo tưởng lớn. Và ngay cả việc nghĩ rằng sẽ có được những công ty thành công vĩ đại và trường tồn trong thế giới kinh doanh này cũng là một ảo tưởng nốt.

Tất cả những điều đó chỉ là những câu chuyện cổ tích lấp lánh ánh hào quang nơi có một chàng hoàng tử tức giám đốc nào đó “biết cách nắm giữ những giá trị quan trọng, vạch ra một tầm nhìn tươi sáng, quan tâm tới nhân viên, tập trung vào khách hàng và phấn đấu cho sự hoàn hảo…”

Rosenzweig nói rằng ông đánh giá cao những giá trị và lý tưởng đó trong các cuốn sách quản trị nổi bật hiện nay. Đi theo những con đường đó không có gì xấu cả, nếu không muốn nói rằng tốt. Nhưng sẽ không có gì đảm bảo rằng đó là con đường dẫn câu chuyện tới kết thúc có hậu. Chàng hoàng tử có tìm thấy công chúa của mình hay không còn phụ thuộc vào nhiều điều khác.

Cisco, một công ty tại Thung lũng Silicon, từng là một con cưng của nền kinh tế mới. Các phóng viên báo kinh tế bộc lộ tràn trề về sự thành công của công ty trong mọi quy tắc: dịch vụ khách hàng đáng thán phục, chiến lược hoàn hảo, các vụ mua lại (acquisition) khéo léo, văn hóa doanh nghiệp độc đáo, và vị CEO lôi cuốn. Vào tháng 3 năm 2000, đó là công ty giá trị nhất trên thế giới.

Khi giá cổ phiếu của Cisco tuột dốc 80% trong năm tiếp theo, các phóng viên đổi tông. Đột nhiên các lợi thế cạnh tranh của công ty bị tái định hình như là các thiếu sót đầy tiêu cực: dịch vụ khách hàng kém cỏi, chiến lược mơ hồ, các vụ mua lại vụng về, một văn hóa doanh nghiệp khập khiễng, và một CEO vô vị. Nhưng tất cả những vấn đề này – cả chiến lược lẫn vị CEO chẳng thay đổi đi đâu từ trước tới giờ. Điều đã thay đổi, trong sự bùng nổ cuộc khủng hoảng dot-com, chính là mức cầu đối với các sản phẩm của Cisco – và điều đó không phải do lỗi của công ty.

Hiệu ứng hào quang xảy ra khi có một khía cạnh đơn lẻ nào đó làm lóa mắt chúng ta và ảnh hưởng lên cách chúng ta nhìn vào bức tranh tổng thể. Trong trường hợp của Cisco, ánh hào quang của nó tỏa ra hết sức rạng ngời. Các ký giả kinh ngạc trước giá cổ phiếu của nó và cho rằng toàn bộ doanh nghiệp cũng rạng ngời như vậy-mà không cần một điều tra kỹ lưỡng nào.

Hiệu ứng hào quang luôn hoạt động theo cùng một cách: Chúng ta tiếp nhận một sự kiện hay chi tiết đáng chú ý hoặc dễ đón nhận nào đó, như là tình hình tài chính của một công ty, và ngoại suy các kết luận từ đó , vốn khó nắm bắt hơn (that are harder to nail down), như là chất lượng của việc quản lý hay tính khả thi trong chiến lược của công ty. Chúng ta thường quy kết thành công và sự ưu việt với những lý do kém hợp lý, như là khi chúng ta thiên vị các sản phẩm đến từ một nhà sản xuất nào đó chỉ vì uy tín của họ. Một ví dụ khác về hiệu ứng hào quang: Chúng ta tin rằng các CEO, những người thành công trong một ngành nghề, sẽ phát đạt trong mọi khu vực-và hơn thế nữa, họ cũng là những người hùng trong đời sống cá nhân của mình.

Nhà tâm lý học Edward Lee Thorndike khám phá ra hiệu ứng hào quang cách đây gần 100 năm. Kết luận của ông là một tính chất đơn lẻ (như là sắc đẹp, tình trạng xã hội, tuổi tác) sản sinh một ấn tượng tích cực hay tiêu cực sẽ che lấp mọi thứ khác, và hệ quả tổng thể bị mất cân đối. Sắc đẹp là một ví dụ được nghiên cứu tốt nhất. Hàng tá các nghiên cứu chỉ ra rằng chúng ta tự động đánh giá những người ưa nhìn là dễ thương, thành thật và thông minh. Người lôi cuốn cũng có được nó dễ dàng hơn trong đời sống chuyên nghiệp của họ (professional live)-và chẳng có gì phải bàn về chuyện hoang đường (về những người phụ nữ) “nằm dài lên tới đỉnh” (sleeping their way to the top). Hiệu ứng này thậm chí còn được phát hiện trong các trường học, nơi mà các giáo viên trong vô thức đánh giá các học sinh ưa nhìn những thành tích cao hơn.

Ngành quảng cáo tìm thấy đồng minh trong hiệu ứng hào quang: Chỉ cần nhìn số lượng các minh tinh mỉm cười với chúng ta từ các quảng cáo trên TV, các biển quảng cáo, và trên các tạp chí. Điều gì làm cho một cầu thủ chơi tennis chuyên nghiệp như Roger Federer trở thành một chuyên gia về máy pha cà phê vẫn còn là đề tài để ngõ cho các cuộc tranh cãi, nhưng điều này chẳng làm giảm đi sự thành công của chiến dịch quảng cáo. Chúng ta quá quen với việc nhìn thấy các ngôi sao quảng cáo các sản phẩm bất kỳ đến nỗi chúng ta chẳng bao giờ dừng lại để cân nhắc tại sao sự hỗ trợ của họ lại là một yếu tố quan trọng đối với bản thân. Nhưng đây lại chính là phần lén lút của hiệu ứng hào quang: Nó hoạt động ở tầng tiềm thức. Tất cả những gì cần thiết để ghi vào tâm trí là một khuôn mặt quyến rũ, một phong cách sống mơ ước – và sản phẩm đó.

Gắn với các hiệu ứng tiêu cực, hiệu ứng hào quang có thể dẫn đến sự bất công to lớn và thậm chí là sự rập khuôn khi mà quốc tịch, giới tính, hay chủng tộc trở thành một đặc điểm toàn diện (all-encompassing). Một người không nhất thiết phải là một kẻ phân biệt chủng tộc hay giới tính vẫn trở thành nạn nhân của hiệu ứng này. Hiệu ứng hào quang phủ mờ tầm nhìn của chúng ta, cũng như nó đã phủ mờ những ký giả, nhà giáo dục hay người tiêu dùng.

Có đôi khi, hiệu ứng này cũng có những hệ lụy dễ thương-ít nhất trong ngắn hạn. Bạn từng có bao giờ chết mê chết mệt ai đó? Nếu có, bạn biết một người hoàn mỹ có thể trông như thế nào. Quý ông hay Quý bà Hoàn Hảo là một kiện hàng trọn gói như sau: quyến rũ, thông minh, đáng yêu và ấm áp. Kể cả khi bạn bè của bạn có thể chỉ ra những nhược điểm hiển nhiên, bạn chẳng thấy gì ngoài những thói quen hay những dị tật đáng mến. (Yêu nhau yêu cả đường đi – Ghét nhau ghét cả tông chi họ hàng)

Hiệu ứng hào quang che khuất tầm nhìn về những đặc điểm chân thực. Để đối kháng lại nó, hãy vượt khỏi giá trị bề mặt. Loại bỏ những đặc điểm nổi bật. Các dàn nhạc đẳng cấp thế giới đạt được điều này bằng cách sắp đặt các thí sinh dự thí biểu diễn đằng sau một tấm màn, để giới tính, chủng tộc, tuổi tác và vẻ bề ngoài không đóng vai trò nào trong quyết định của họ. Còn với các ký giả mảng kinh tế, tôi xin khuyến nghị thân tình hãy đánh giá một công ty vì những thứ khác thay vì những bảng số liệu hàng quý dễ nhận được của họ (thị trường chứng khoán đã đem chúng đến sẵn rồi). Đào sâu hơn nữa. Hãy đầu tư thời gian cho những nghiên cứu nghiêm túc. Những gì hiện ra luôn không đẹp đẽ, nhưng hầu hết luôn mang tính giáo dục.

Rolf Dobelli – The Art of Thinking Clearly

Nguồn của tác giả:

Quyển sách nền tảng về hiệu ứng hào quang trong kinh doanh, bao gồm ví dụ về Cisco: Phil Rosenzweig, the Halo Effect-and the Eight Other Business Delusions That Deceive Managers (New York: Free Press, 2007).

Thorndike định nghĩa hiệu ứng hào quang là “một vấn đề nảy sinh từ tập dữ liệu khi có một sự chuyển giao (carry-over) từ một phán đoán này sang phán đoán khác.” Edward L. Thorndike, “A Constant Error on Psychological Rating”, Journal of Apllied Psychology 4 (1920): 25-29.

Richard E. Nisbett và Timothy D. wilson, “The Halo Effect: Eivdence for Uncounsious Alteration of Judgements,” Journal of Personality and Social Psychology 35, quyển 4 (1977):250-56.

HÀO QUANG HAY GÀO THÉT

Tháng Sáu 4, 2016

Những ngày vừa qua một bộ phận cư dân mạng đã bị chia thành nhiều nhóm trước những luồng thông tin đa chiều: Có tin chính thống, có tin không; cũng thông  tin đã được kiểm chứng cả những tin không hề dựa trên bất cứ cơ sở nguồn gốc nào. Việc căn dặn nhau phải tỉnh táo trong lúc này thật sự là vô ích khi lý trí của chúng ta thường xuyên bị cuốn phăng đi trong cơn lốc những bài tranh biện được đăng lên rào rào mỗi ngày. Trên cơ sở đó, có lẽ sẽ hợp lý hơn là đi sâu vào nguồn gốc của hiện tượng tâm lý xã hội này và để mỗi người tự đánh giá chúng trên quan điểm của cá nhân.

  1. Hiệu ứng Hào quang và người anh em – Hiệu ứng Gào thét

Ấn tượng tốt – Có thể nói là từ này bao trùm đến 80% của khái niệm hiệu ứng hào quang (lan hỏa – hay Halo Effect). Hiệu ứng này chỉ ra rằng, đây là một hiện tượng tâm lý khi cảm nhận ban đầu của 1 người về một sự vật – hiện tượng –thương hiệu là tốt đẹp thì sẽ khiến người đó có nhiều suy nghĩ tích cực hơn về những điều đó sau này, bất kể thời gian.

Các ví dụ tiêu biểu có thể kể đến của hiệu ứng này là:

  • Apple có một lượng fan đông đảo chỉ vì suy nghĩ “đồ của họ bền, ổn định và tốt”.
  • Nhà tuyển dụng thường có xu hướng bỏ qua những lỗi nhỏ của người phỏng vấn nếu có được những ấn tương tốt ban đầu.
  • Một sản phẩm được review tốt trên mạng được nhiều người chọn mua hơn (cho dù là seeding).Hala Steve Jobs (Nguồn: internet)

Trái ngược với Halo, hiệu ứng Gào thét(từ gốc: Horn Effect, tuy vậy m sẽ dùng từ hiệu ứng Sừng cho gọn hơn) có thể giải thích một cách đơn giản hơn trong tiếng Việt bằng 2 chữ “ Định kiến”. “Yêu nhau yêu cả đường đi, ghét nhau ghét cả tông chi họ hàng”, đã bao giờ bạn cảm thấy chỉ cần liếc qua sản phẩm có nhãn mác Trung Quốc là đã cảm thấy ác cảm rồi dù cho chưa từng sử dụng qua sản phẩm đó chưa? Điều này có thể giải thích là bằng các trải nghiệm trong quá khứ, trong tâm trí bạn đã có một định kiến không tốt về một người/thương hiệu nào đó, và nó dẫn dắt chúng ta hành động một cách vô thức sau này, dù chúng ta không biết rõ tại sao lại như vậy.

Hành vi tiêu biểu phản ánh hiệu ứng Sừng như sau:

  • Dù cùng một sản phẩm nhưng mà hàng nội địa Việt Nam thường không được đánh giá cao bằng hàng xuất khẩu vì lí do “sính ngoại”.
  • Những người tù khi trở lại cuộc sống thì rất khó để xin việc làm vì quá khứ tội lỗi của họ.
  • Một nhân viên không có sự nổi bật khi làm việc nhóm thường bị đánh giá là kém năng lực nếu người nhận xét không có đủ trình độ chuyên môn.
  • ĐẶC BIỆT: hiện tượng cắn xé bầy đàn trước một đối tượng nào đó bị xã hội không yêu thích, ví dụ như Hà Hồ.Biểu đồ so sánh 2 hiện tượng Halo và Horn (Nguồn: Internet)
  1. Làm sao để bảo vệ bản thân trước hành vi tâm lý này?

Về hành vi xã hội. điểm mấu chốt ở đây là phải đưa ra lựa chọn trong một tâm trí hoàn toàn thoải mái. Dẫu vậy, trên thực tế đây là một điều rất khó có thể xảy ra vì bản thân chúng ta luôn luôn hình thành nên các luồng suy nghĩ, thành kiến hoặc định kiến về một đối tượng, dẫu là trong ý thức hoặc đến từ tiềm thức. Vì vậy. cách tốt nhất ở đây là trước khi thực hiện một quyết định quan trọng nào đó, hãy chắc chắn là bạn có thể thu thập được càng nhiều càng tốt các sự kiện hoặc thông tin có liên quan về sự vật hiện tượng đó (tất nhiên là nếu thời gian cho phép). Cố gắng đừng ngay lập tức nào một thông tin nào đó, và càng không nên xù lông nhím mỗi khi tiếp nhận với một luồng thông tin trái chiều.

The horn (Nguồn: Internet)

Về khía cạnh cá nhân. bạn phải nhận thức được khả năng thực sự của mình. Trong cuộc sống nhiều khi chúng ta vẫn bị đánh giả chỉ qua vẻ bề ngoài của mình. Bạn bè bạn, gia đình bạn, công việc của bạn nhìn nhận bạn không hoàn toàn dựa trên thực tế về những gì mà bạn làm được. Vì vậy, nếu như bạn muốn được đánh giá đúng mức về năng lực của mình, bạn phải hiểu rằng người khác đang nhìn nhận bạn như thế nào, qua đó từng bước kéo họ trở lại với thực tế. Nếu không thể làm được như vậy, thì rất tiếc, có thể bạn sẽ mãi mãi bị chôn vùi vì một sai lầm nào đó trong quá khứ, mà có thể là bạn còn chưa từng biết là nó đã xảy ra.

(còn tiếp)

Các nguồn tham khảo:

http://www.wikipedia.com

http://www.rightattitudes.com/2010/04/30/rating-errors-halo-effect-horns-effect/

http://www.joshuakennon.com/mental-model-horns-effect-and-halo-effect/

http://www.brandsvietnam.com/congdong/topic/385-Hieu-ung-lan-toa-Halo-Effect-va-ung-dung-thuat-tam-ly-trong-marketing

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s