VƯỢT QUA “ĐÊM DÀI” ĐÓI KÉM

 

TT – Là nước xuất khẩu gạo số 2 thế giới, VN lập nên kỳ tích từ những bữa ăn độn rau khoai, kể cả loại bo bo xa lạ.

Người dân TP.HCM xếp hàng đợi mua gạo ở một cửa hàng lương thực năm 1985 – Ảnh tư liệu

Hậu quả chiến tranh, thiên tai, các chính sách không phù hợp như ngăn sông cấm chợ, mà đặc biệt chính sách hợp tác hóa nông nghiệp làm triệt tiêu động lực sản xuất của nông dân…

Nhắc nhớ quá khứ để trân trọng VN đã vượt qua “đêm dài” đói kém thế nào sau ngày thống nhất hòa bình…

Ở TP.HCM, đô thị lớn nhất đất phương Nam, chưa bao giờ biết thiếu gạo nhưng người dân đã phải làm quen với khoai mì và hạt bo bo khô cứng những năm cuối thập niên 1970 và đầu thập niên 1980.

Là cán bộ ngân hàng, ông Lữ Minh Châu vẫn không quên những nồi bo bo vợ nấu đợi chồng mỗi buổi chiều về.

Bữa cơm của giám đốc ngân hàng

Bà Trần Ngọc Điệp, vợ ông, tâm sự chồng mình làm giám đốc Ngân hàng Nhà nước TP.HCM, rồi tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước VN (tương đương chức vụ thống đốc hiện nay) mà về nhà vẫn ăn bo bo. Ông Châu vẫn ăn ngon lành, chỉ có gương mặt rất trầm ngâm.

Mãi về sau mọi người mới biết đây là thời điểm ông Châu đang được Bí thư Thành ủy Võ Văn Kiệt giao nhiệm vụ phối hợp cùng bà Ba Thi chạy gạo cho thành phố. Ông về nhà, nhai hạt bo bo càng thấm thía nỗi khổ của dân!

Thời khan hiếm miếng ăn, người ta hay nghĩ ai có chân trong công ty lương thực là mèo sa hũ mỡ, nhưng thực tế không hẳn ai cũng vậy. Bà Nguyễn Thị Kim Anh, cán bộ văn phòng Công ty Lương thực TP.HCM từ thời còn là tổ thu mua, vẫn nhớ chế độ được mua gạo của mình cũng thiếu hụt như mọi người.

Mãi khi gạo miền Tây về thành phố nhiều hơn, bà mới được nâng suất lên 25kg gạo mỗi tháng. Tuy nhiên, bọc gạo ấy chẳng thấm vào đâu với sáu miệng ăn trong nhà, bữa cơm cũng lẫn lộn hạt bo bo.

“Ba má tôi hồi ấy lớn tuổi rồi, không nhai bo bo được mà có cố nuốt chửng vào cũng không tiêu nổi. Chị em tôi phải nhường cơm cho ba má. Lo sáu cái bao tử trong nhà đã vã mồ hôi, tụi tôi còn phải chia sẻ thêm cho dòng họ lúc ấy còn đói hơn mình”- bà Kim Anh nhớ những ngày ghé thăm nhà người chú đang nuôi bốn con ăn học ở Thanh Đa.

Trước năm 1975, người chú này bán phụ tùng xe máy, sau giải phóng tình hình kinh doanh bết bát phải về Bình Quới làm vườn. Nồi chỉ bo bo độn khoai mì mà cũng thường hụt miệng ăn. Chị chia phần gạo ít ỏi của nhà mình qua cho nhà chú vẫn không đủ, phải sẻ thêm cả bo bo.

Hũ gạo cán bộ nhà nước có chế độ hẳn hoi mà còn thiếu hụt, tình hình ngoài dân rất căng thẳng. Ông Trần Văn Đức, dân kinh tế mới, chạy lên ở khu Mã Lạng, quận 1, đợt miền Tây lụt nặng năm 1978.

Nhiều đợt cả tháng liền vợ chồng ông Đức chỉ ăn bo bo để dành gạo nấu cơm, cháo cho con. Có tối bà vợ loay hoay lo ba đứa nhỏ, quên ngâm bo bo để sáng kịp nấu sớm cho chồng đi đạp xích lô.

Ông thức dậy, đói quá, đổ đại vốc bo bo khô vô nồi nấu suốt gần hai giờ, hạt bo bo chưa được ngâm vẫn cứng.

“Nhai đâu có nổi, tôi phải cố nuốt trộng xuống bụng, bị nghẹn suýt tắc thở. Tôi ngã lăn ra. Bà vợ tưởng chồng bị tai biến vừa khóc vừa la làng. Hàng xóm chạy sang thấy tôi ho ói được mớ bo bo nguyên hột ra ngoài”. Cái bao tử không thể nghiền được hạt bo bo!

Không chỉ dân kinh tế mới quá khó khăn, nhiều người có nhà cửa, sinh kế bình thường ở TP.HCM lúc ấy vẫn nhai đều khoai mì, khoai lang, bo bo độn cơm.

Bà Trần Thanh Thủy, ở đường Phạm Văn Hai, quận Tân Bình, nhớ mãi: “Con gái tôi lúc ấy vừa 7 tuổi, mới thay răng. Một hôm cháu đang ăn tự nhiên máu chảy đầy miệng. Tôi bắt cháu phun ra thì thấy trong mớ bo bo có cả cái răng non bị gãy. Hóa ra nhà hết vôi, tôi chỉ ngâm bo bo vài giờ trong nước nên nấu lẫn cơm bo bo không mềm ra được”.

“Mua gạo cấp bù” năm 1985 tại TP.HCM – Ảnh tư liệu

Nồi cơm của vợ bộ trưởng

Hồi tưởng năm tháng quay quắt với miếng ăn, tiến sĩ Nguyễn Văn Huy, nguyên giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, tâm sự: “Bố tôi là cựu bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên. Anh em trong gia đình được nuôi ăn học làm giáo sư, tiến sĩ, về nhà lại nâng chén cơm độn bo bo mẹ nấu”.

Nhắc lại những năm khó khăn cuối thập niên 1970 và thập niên 1980, ông Huy miên man kể chuyện mẹ mình. Ngày ngày bà nấu nồi cơm cho cả 10 người ăn, gạo vun vón giữa nồi, bo bo bọc ở bên ngoài.

Con cái trưởng thành nên vợ nên chồng, nhà càng đông đúc thêm miệng ăn với lứa cháu nhỏ. Bà phải khéo tay, tính toán lắm mới tạm đủ miếng ăn cho cả gia đình…

Nguyên cục phó Cục Cung cấp lương thực Bộ Lương thực, bà Cao Thị Hảo chính là nhân chứng thời cả nước phải chạy vạy từng hạt gạo, hạt bo bo, khoai sắn.

Bà tâm sự: “Nhiều đợt các kho lương thực Hà Nội cạn sạch. Gạo cung cấp cho dân dù chỉ là chế độ tem phiếu 9kg, 13kg nhỏ giọt cũng không còn. Tin đồn hết gạo lan nhanh như đám cháy nhà.

Dân đổ xô đi lùng sục, vét nhẵn tất cả những gì còn lại. Gạo bán lén lút ngoài vỉa hè theo tin đồn giá nhảy lên vùn vụt”.

Chính bà Hảo nhiều ngày ra cảng Hải Phòng chờ chực lương thực về. Tình hình căng đến mức bà phải xin xoay trước cho Hà Nội năm xe gạo nhỏ để “chữa cháy” tin đồn mặc dù thực chất nó chưa đủ cho một tổ dân phố ăn vài ngày.

Năm xe mở bạt cứ chạy vòng phố xá Hà Nội để dân thấy “đầy gạo” mà yên tâm. Đến cửa hàng lương thực, tài xế còn vờ dừng lại cố tình cho dân nhìn cảnh gạo về kho. Rồi xe lại qua cửa hàng khác. Hình ảnh “gạo về kho” tiếp diễn …

Nhà bà Hảo có năm miệng ăn gồm hai vợ chồng, ba đứa con với hai suất gạo 13 kg và 4-5kg cho mỗi con tùy độ tuổi. Nguồn gạo tem phiếu thiếu hụt mỗi tháng thành nỗi ám ảnh, còn thêm nỗi lo con cháu ở quê lên nương tựa ăn học.

Bà nhớ mãi: “Nhường bọn nhỏ đang tuổi ăn tuổi lớn, tôi không ăn sáng, đạp xe đi làm. Nhiều hôm đạp từ Bộ Lương thực ở phố Ngô Quyền về đến Ngã Tư Sở người cứ lả đi. Khi mở nắp nồi thì lưng chén cơm nguội cũng không còn. Con cháu đang tuổi ăn kiềm chế không nổi”.

Làm ở Bộ Lương thực mà vẫn phải ăn cơm độn ê cả răng, nhưng bà Hảo thừa nhận dù sao mình vẫn đỡ. Có lần bà đi kiểm tra cửa hàng lương thực thấy thầy hiệu trưởng Trường đại học Ngoại thương một thời của mình đang lom khom vác bao bo bo từ xe tải vào cửa hàng.

Bà Hảo thảng thốt: “Ôi! Thầy ơi, sao thầy vất vả thế này?”. Người thầy ngại nhìn học trò cũ, mắt mờ đục: “Nhà hết nhẵn cái ăn rồi. Con lại đang bệnh. Cửa hàng trưởng nói ai chịu khó vác bo bo vào sẽ ưu tiên cho mua trước, mà xếp hàng muộn cũng chẳng còn để mua nữa”.

Phiếu mua lương thực ở quận 5 năm 1987. Thời đó người dân sợ nhất là “mất sổ gạo” – Ảnh tư liệu

Ông Lữ Minh Châu nhớ chính ông Võ Văn Kiệt có lần đã phải nói thẳng lương thực TP.HCM chỉ còn vài ngày, tình hình báo động.

Sau năm 1975, với tiêu chuẩn phân phối trung bình 9kg gạo mỗi người thì 4 triệu dân phải cần 530.000 tấn gạo. Nhưng số lượng này không được đảm bảo khi Nhà nước chỉ có thể huy động nổi hơn 1 triệu tấn mỗi năm trên toàn quốc.

Còn sản lượng của cả vựa lúa miền Nam từ mức 1,9 triệu tấn năm 1976 cứ tụt dần xuống còn 0,99 triệu tấn năm 1977 và 0,64 triệu tấn năm 1979.

TP.HCM mặc dù rất cố gắng, nhưng những năm 1970-1980 chỉ phân phối được trung bình 6kg gạo cho mỗi người dân.

Theo nhà nghiên cứu Đặng Phong, đô thị lớn nhất miền Nam từ thừa mứa gạo trong suốt 300 năm qua, lần đầu phải ăn độn khoai mì, khoai lang, kể cả bo bo, thứ hạt cứng ngắc mà Liên Xô viện trợ.

T – “Một hôm tôi xuống thăm người dân xã Hòa Nghĩa, huyện An Thụy, Hải Phòng thì thấy nhà nào cũng đói. Có gia đình ba cháu đói lả trên giường mà chẳng thấy người lớn…

Tôi hỏi cha mẹ các cháu đâu, bọn trẻ trả lời bố mẹ cháu ra bãi biển mò tôm cá về bán đong gạo”.

Ông Đoàn Duy Thành, nguyên phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, hồi tưởng về những năm tháng đói kém  – Ảnh: Q.V. – tư liệu

Nhắc nhớ những ngày khó khăn này, ông Đoàn Duy Thành, nguyên phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, vẫn ngậm ngùi suy tư. Ông tâm sự hồi đương chức chủ tịch rồi bí thư Tỉnh ủy Hải Phòng phải chứng kiến nhiều cảnh như vậy. Người dân phải tìm mọi cách để xoay xở miếng ăn.

“Ám ảnh việc kiếm cái ăn!”

“Không biết lúc nào cha mẹ các cháu mới về đến nhà, mà có kiếm được gì để ăn không, tôi bảo tài xế về gấp nhà tôi lấy gạo nấu ngay cho các cháu ăn lại sức” – vừa tâm sự, ông Đoàn Duy Thành vừa giở lại những tài liệu ố màu thời gian.

Hồi còn kháng chiến, ông nghĩ dân mình chỉ cần có đất là không lo, thế mà hòa bình người dân có đất vẫn cứ đói triền miên. Ruộng quê ông xưa cày cấy bình thường cũng được 100kg lúa mỗi sào đất, bây giờ cũng ruộng ấy chỉ được 40kg lúa. Ở các thửa ruộng khác lão nông tri điền cũng chẳng làm khá hơn.

Cày cho mình thật sự mọi người hăng hái đổ mồ hôi, cày cho hợp tác xã cuối vụ tính điểm còn không đủ thóc nuôi con, chẳng ai hăng hái nổi. Ông Thành đi tham quan các tỉnh lúa khác tình hình cũng chẳng khá hơn. Nông dân vẫn phải ăn bo bo, khoai độn, cháo nấu với thân chuối mỗi ngày.

Ở Hải Phòng, ông Thành kể: “Kinh tế hợp tác xã chỉ bảo đảm được 20% cuộc sống xã viên, mọi người phải bổ ra ngoài kiếm sống. Ngay trên ruộng hợp tác xã rộng lớn dân cũng chỉ làm qua loa cho xong để còn về làm ruộng 5% thuộc về mình. Quanh đi quẩn lại mọi người triền miên ám ảnh việc kiếm ăn”.

Cũng như nhiều địa phương khác, chỉ qua 10 ngày đầu tháng cửa hàng gạo Hải Phòng chẳng còn gì bán cho cán bộ công nhân viên, kể cả bo bo. Thành phần có lương, có tem phiếu đã vất vả, người dân lao động càng khó sống hơn.

Hồi tưởng năm tháng vật vã kiếm ăn hầu như ai cũng có kỷ niệm khó quên. Tiến sĩ Nguyễn Văn Huy, giám đốc Bảo tàng Dân tộc học – con trai cố bộ trưởng giáo dục Nguyễn Văn Huyên, tâm sự: “Hồi ấy đồng lương eo hẹp quá. Ở Hà Nội cả nhà tôi người là giáo sư, viện phó, người là tiến sĩ này nọ đều phải xoay xở kiếm thêm.

Khoảnh sân nhà tôi trở thành vườn – chuồng đúng nghĩa, chỉ còn thiếu mỗi ao, mà nếu có thể đào được thì chắc chúng tôi cũng đào rồi. Từ mẹ tôi, vợ một bộ trưởng đến con cái, dâu rể đều lăn ra nuôi heo, gà vịt, trồng nấm, sắn dây. Tối tối mọi người còn cặm cụi phân từng hạt đậu phộng bỏ vào bọc nilông đem bán kiếm thêm mấy hào”.

Tiến sĩ Huy bùi ngùi nhớ mẹ mình hồi ấy đã lớn tuổi mà đêm đêm vẫn thức khuya nối len, đan mũ, khăn quàng để vun vén thêm nồi cơm cho cả nhà ba thế hệ.

“Đến giờ tôi vẫn có thói quen ăn cơm nguội bữa sáng, mà hồi ấy có chén cơm là quý lắm. Chỉ mẹ già và con còn nhỏ mới được ưu tiên, chúng tôi vẫn phải ăn độn bo bo” – tiến sĩ Huy tâm sự mình vẫn nhớ “hương” phân gián trong chén bo bo.

Người dân TP.HCM sốt ruột chờ mua gạo – Ảnh: Q.V. – tư liệu

Cứu đói!

Nhiều nơi ở miền Nam mấy trăm năm chưa từng có chuyện thiếu miếng ăn, thế mà người dân thời kỳ này cũng phải bươn chải xoay gạo từng bữa. Cả xã hội vật vã kiếm ăn. Cả sinh viên cũng không thể toàn tâm ngồi ghế giảng đường.

Thầy giáo Nguyễn Xuân Thiệu, Trường tiểu học Nguyễn Văn Nguyên, huyện Đức Huệ, Long An, kể năm 1986 mình rời quê đi học sư phạm ở thị xã Tân An. Tiếng là ngành sư phạm được bao cấp hơn ngành khác, nhưng suốt thời gian dài người thầy này chỉ ăn hai bữa

mỗi ngày, thậm chí một bữa. “Lương” sinh viên sư phạm 13kg gạo, sau được quy tiền. Cầm số tiền đó mà ra ngoài ăn dè sẻn nhất cũng chỉ năm ngày đã thiếu, nên 25 ngày còn lại là nồi cơm sinh viên tự nấu và độn đủ thứ từ bo bo đến bắp, khoai mì… Tất cả trông vào gạo nhà quê tiếp tế, nhiều đợt không có phải nấu cháo húp với muối ớt chứ không được nước mắm ớt.

Hồi tưởng thời kỳ thiếu đói, ông Lê Văn Triết – nguyên bộ trưởng Bộ Thương mại – ray rứt kể có những cuộc họp Chính phủ, Quốc hội thật nặng nề chuyện miếng cơm người dân.

Một lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa họp Quốc hội bị chất vấn: tại sao tỉnh lúa Bắc Trung bộ lại để dân đói trầm trọng? Vị cán bộ này khóc ròng giữa Quốc hội và thừa nhận địa phương bất lực…

Ông Đoàn Duy Thành, nguyên phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, cũng có kỷ niệm ngậm ngùi Tết Nguyên đán năm 1988 với hơn 100 người chết đói ở Thanh Hóa vì tình hình kinh tế khó khăn, lạm phát chung lại thêm mất mùa nặng ở địa phương.

Tuy nhiên, theo ông Thành, con số này vẫn chưa đầy đủ vì nhiều nơi báo cáo thiếu. Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng mới nhận chức định vào Nam ăn tết, phải ở lại Hà Nội lo chuyện cứu đói. Hai ông gặp nhau ngày tết mà nặng trĩu nỗi lo.

Là nhân chứng trong đoàn cán bộ cứu đói Thanh Hóa, ông Nguyễn Thành Thơ – tức Mười Thơ, nguyên phó bí thư Thành ủy TP.HCM – kể vừa xuống ga xe lửa đã sốc với cảnh dân lén lút bán gạo với giá đắt gấp nhiều lần bình thường.

Lúc đong gạo, vài hạt bị vương vãi dân tranh nhau lượm. Ông Mười Thơ hỏi cán bộ tỉnh: “Địa phương có gạo dự trữ không?”. Người này thở dài: “Còn một ít dự trữ, nhưng chỉ đủ cho cán bộ, nhân viên ăn thôi”.

Đi vào vùng thiếu đói Thanh Hóa, ông Mười Thơ tiếp tục sốc với những góc bếp không một hạt gạo nào, có nhà chỉ còn một vài củ khoai mì, bắp, thậm chí chỉ có những rổ lá cây dại mà dân vào rừng kháng chiến như ông cũng không biết có ăn được không.

Bà Cao Thị Hảo – nguyên cục phó Cục Cung cấp lương thực Bộ Lương thực – đi kiểm tra tình hình phân phối lương thực ở Thanh Hóa ám ảnh mãi cảnh: “Một bà cụ chống gậy từ trong nhà ra đón chúng tôi. Bà đi được vài bước thì ngã quỵ xuống không đứng lên nổi. Tôi hỏi người con thì nghe câu trả lời nhiều ngày nhà không còn gì ăn, bà cụ lả vì đói”.

Bà Hảo kể những thời điểm thiếu đói nghiêm trọng đến mức xe chở gạo miền Nam ra Hà Nội nhưng cứ phải đỗ dọc đường vì không thể qua được các nơi thiếu đói gay gắt như Thanh Hóa, Nghệ An. Chính bà Hảo phải điện khẩn cấp về Bộ Lương thực xin ứng ít gạo, bo bo để tạm cứu đói cho dân.

Nền kinh tế tập thể nông dân chỉ tồn tại trên giấy và trên hình thức do cấp ủy địa phương sợ trung ương nên phải làm. Nông dân lại sợ cấp ủy nên phải vào tập đoàn sản xuất hay hợp tác xã.

Năm 1976 sản lượng lúa bình quân trên một người dân là 211kg thì đến năm 1980 chỉ còn 157kg. Kế hoạch năm năm 1976-1980 nâng tổng sản lượng lúa lên gần gấp đôi vào khoảng 21 triệu tấn, nhưng đến năm 1980 chỉ đạt được khoảng một nửa, chưa bằng mức 11,827 triệu tấn của năm 1976.

…Do không thu mua được lương thực, người dân các thành phố phải ăn độn. Thủ đô Hà Nội khẩu phần định lượng được mua giá cung cấp 0,40 đồng/kg vốn đã ít ỏi (13 kg/người/tháng), đến tháng 3-1978 thực tế chỉ còn được 4kg gạo, còn lại là khoai lang, sắn khô… Chưa bao giờ tình trạng thiếu hụt lương thực lại trầm trọng như vậy, kể cả thời chiến. Thường trực Ban bí thư Nguyễn Duy Trinh phải điện khẩn các tỉnh nông nghiệp Hải Hưng, Hà

Bắc, Thái Bình, Hà Nam Ninh bằng mọi cách “làm nhiệm vụ chính trị” cung cấp gạo cho Hà Nội. Từ tháng 4 năm đó, số gạo đủ để bán cho mỗi nhân khẩu cũng chỉ bằng 40% tiêu chuẩn định lượng.

Nhà nghiên cứu ĐẶNG PHONG

___________

Chuyện ông Sáu Dân, bí thư Thành ủy TP.HCM, chạy gạo vẫn còn trong ký ức nhiều người.

TT – “Bắt đầu sang năm 1977, trên giao về thành phố lượng gạo không đủ phân phối theo tiêu chuẩn hằng tháng, phải dùng hàng vạn tấn khoai lang, khoai mì, bo bo thay cho lượng gạo tiêu chuẩn…

Bí thư Thành ủy Võ Văn Kiệt, bà Ba Thi và ông Lữ Minh Châu (đứng thứ hai, ba, tư từ phải sang) – Ảnh tư liệu của ông L.M.C.

Những lúc tình hình lương thực căng thẳng quá, thành ủy, ủy ban họp ngày họp đêm để tìm cách giải quyết. Đồng chí Võ Văn Kiệt, bí thư Thành ủy TP.HCM, chỉ thị dứt khoát: “Không để một người dân nào chết đói”.

Đó là một đoạn viết về tình trạng thiếu hụt lương thực nghiêm trọng ở TP.HCM trong cuốn sách Chuyện kể về chị Ba Thi.

Quyết định “xé rào”

Một hôm Bí thư Thành ủy Võ Văn Kiệt, tức ông Sáu Dân, gọi điện mời vài người sang nhà ăn sáng để bàn chuyện gấp. Bữa ăn sáng vừa xong, ông Sáu Dân liền nói mời mọi người tới đây là để bàn tính việc chạy gạo cho 4 triệu dân TP.HCM.

Tình hình căng thẳng lắm rồi, lượng gạo dự trữ chỉ còn đủ vài ngày. Nguồn cung cấp của Bộ Lương thực hứa thì không chắc, mà thực tế là luôn trễ và thiếu hụt rất lớn. 4 triệu dân thành phố chỉ không có gạo để ăn một ngày là thảm họa.

Ông Sáu Dân nói tiếp, Sở Lương thực thì có đó mà phải chịu ngồi chờ bộ, vì chỉ là cơ quan quản lý, không có cơ chế để kinh doanh. Miền Tây có gạo nhưng lại không thể mua về cho dân thành phố ăn được. Và chính nông dân cũng không muốn bán theo nghĩa vụ cho Nhà nước vì bị thiệt thòi quá.

Cái thế kẹt, thế bí là chỗ này… Ông Sáu Dân yêu cầu mọi người góp ý tháo gỡ làm sao để nhu cầu muốn mua của người thành phố gặp được nhu cầu muốn bán của nông dân theo giá thỏa thuận. Còn cuối cùng mức giá mua bán thế nào thành ủy và ủy ban sẽ quyết định.

Mọi người bàn tới bàn lui thấy có hướng đến vựa gạo rồi nhưng lại vướng mắc nhiều rào cản. Ông Châu, ông Năm Ẩn đồng tình với bà Ba Thi, nhưng nói rõ chiếu theo quy định thì cái nào cũng sai. Muốn gỡ tình thế nồi cơm hết gạo chỉ còn cách phải xé rào.

Cuối cuộc họp bàn quan trọng này, mọi người hiểu rõ trách nhiệm rất nặng nề. Bà Ba Thi nói với bí thư Sáu Dân rằng với cách làm thông thoáng này sẽ thực hiện được, nhưng nếu trung ương biết là đi tù. Ông Sáu Dân nửa thật nửa đùa mọi người vì chạy gạo cho dân ăn mà phải đi tù, ông sẽ mang cơm đi thăm nuôi.

Và đúng như mong muốn của những người có mặt trong buổi họp, ông Sáu Dân khẳng định sẽ chịu trách nhiệm cao nhất về chủ trương vượt rào này, kể cả những việc cụ thể như quyết định mức giá thỏa thuận với nông dân.

“Tổ thu mua lúa gạo – tiền thân của Công ty Lương thực TP.HCM ra đời từ đây. Vì thực tế nồi cơm độn bo bo, khoai mì thúc bách, nó phải xé rào các chính sách nhưng hoàn toàn phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. Chính Bí thư Thành ủy Võ Văn Kiệt là người nảy ra ý tưởng ban đầu và nhận lãnh trách nhiệm cao nhất về chuyện xé rào, chạy gạo cho dân ăn này” – ông Lữ Minh Châu tâm sự.

Đưa gạo về thành phố

Tuy nhiên, từ đề án trên bàn họp đi đến hiện thực, tổ thu mua gạo đầu tiên của TP.HCM gặp không ít khó khăn. Ông Châu nhớ ngay chuyện giao dịch bằng tiền mặt hay qua ngân hàng rất đơn giản ở thời điểm này nhưng hồi đó cũng rất nan giải.

“Ban đầu cứ nghĩ có kế toán của Sở Tài chính và thủ quỹ ngân hàng đi theo kiểm soát việc chi tiền rất dễ dàng mà thực tế lại quá rắc rối. Ngân hàng dưới các tỉnh miền Tây lúc nào cũng cạn kiệt tiền mặt.

Phương thức ngân hàng TP.HCM làm thủ tục chuyển tiền nhanh cho ngân hàng địa phương, để tổ thu mua của bà Ba Thi lấy tiền tại chỗ giao dịch bị phá sản ngay từ đầu. Chúng tôi buộc phải kè kè bao bố tiền từ TP.HCM xuống tận người dân miền Tây trong tình hình giao thông khó khăn, an ninh hết sức phức tạp”.

Sau cái khó của đồng tiền, tổ thu mua gạo lại gặp vướng ở khâu thủ tục vận chuyển gạo về TP.HCM trong thời kỳ đầu. Tình hình các chốt kiểm soát dày đặc có toàn quyền bắt bớ bất kỳ ai. Thời ngăn sông cấm chợ mà đưa được bao gạo xách tay, chứ đừng nói xe tải gạo, về được TP.HCM là cực kỳ khó.

Đặc biệt, tổ thu mua gạo lại càng không có danh nghĩa gì rõ ràng theo chủ trương của Nhà nước. Một anh trưởng ấp hay du kích xã cũng có thể hạch sách, cản trở, thậm chí kết tội họ là con buôn.

Chính bà Trần Ngọc Điệp, vợ ông Lữ Minh Châu, quê Minh Hải, có lần chỉ mang 10kg gạo của con cháu làm ruộng tặng cũng bị bắt tại trạm kiểm soát Tân Hương, Long An.

“Tuy nhiên, trong cái khó cũng ló cái may. Bà Ba Thi quan hệ rất tốt với các địa phương. Nhiều lãnh đạo tỉnh từng là bạn kháng chiến của bà nên dần cũng giải được bài toán trạm kiểm soát. Hơn nữa chúng tôi không ép dân, mua gạo rẻ mạt theo giá Nhà nước quy định, nên uy tín lan nhanh xuống các địa phương. Nông dân khoái bán cho mình. Lãnh đạo địa phương cũng nhận thức rõ đôi bên cùng có lợi nên tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi” – ông Châu vẫn chưa quên những ngày đầu mang tiền đi “buôn lậu” gạo.

Bà Kim Anh, người đang học Trường Nguyễn Ái Quốc ở Hà Nội thì được gọi về Sài Gòn lo chạy gạo – Ảnh: Q.V.

Tổ thu mua

Đang tình hình nhiều nồi cơm ở TP.HCM thiếu cái để nhóm lửa, từng xe tải gạo ở miền Tây theo tổ thu mua của bà Ba Thi (Nguyễn Thị Ráo) ồ ạt đổ về. Có lãnh đạo chưa tin, trực tiếp xuống kho vốc gạo xem tận mắt.

Nhiều cựu chiến binh đang bức xúc con cháu bị thiếu ăn gọi điện cho bà Ba Thi: “Ba Thi, bà đi buôn lậu hả? Coi chừng tù à nghen. Nhưng làm gì cũng được, miễn sao cho dân no bụng là quý rồi”.

Lần lại những tấm ảnh đã ố màu thời gian, bà Nguyễn Thị Kim Anh, cán bộ thu mua lúa gạo từ thời kỳ đầu năm 1978, nhớ mình đang học Trường Nguyễn Ái Quốc thì được gọi về chạy gạo với bà Ba Thi. Bà Kim Anh là dân kháng chiến trong bưng ra. Bà Bà Thi thích những người làm nhiều hơn là hô hào rỗng tuếch…

“Nhìn nhóm người lôi thôi lếch thếch, quần xắn ống thấp ống cao quá đầu gối, khăn rằn, nón lá lùm xùm… người ta tưởng là dân buôn lậu. Hồi đầu tổ thu mua chỉ vỏn vẹn có tám người.

Bà Ba Thi làm tổ trưởng, một tài xế, hai kế toán và thủ quỹ, còn lại đều là nhân viên thu mua” – bà Kim Anh kể tổ thu mua lúa gạo đi Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Hậu Giang, chỉ khoảng ba ngày sau là gạo về đến thành phố.

Có đi tận nơi bà mới thấy quá nhiều cảnh bất cập, tai hại do cơ chế ngăn sông cấm chợ và Nhà nước tự định giá thu mua rẻ mạt, không tuân theo quy luật thị trường.

Trong khi nhiều tỉnh thành rơi vào cảnh đói khát đến khoai mì độn bo bo cũng thiếu ăn thì nhiều nơi lại dư lúa gạo. “Chỗ dư lúa, thừa gạo, lúa để ẩm mục làm phân, gạo đem cho gà heo ăn không hết, mà không cho nông dân đem lúa gạo dư thừa đó đến những nơi đang thiếu”!

Sau một thời gian đầu mua gạo từ nông dân bằng tiền mặt, bà Ba Thi chuyển hướng sang hàng đổi hàng. Nguyên nhân chính bắt nguồn từ hoàn cảnh nông dân rất khan hiếm hàng hóa thiết yếu.

Nhiều khi cầm tiền trong tay họ cũng không thể tìm mua được những thứ hàng mình cần như xăng, dầu hỏa, vải vóc, thuốc tây, bột ngọt… Là một trong những thành viên của tổ thu mua lúa gạo thời kỳ đầu, ông Trần Văn Quang kể thật ra phương thức hàng đổi hàng cũng gặp khó.

Hồi ấy với các mặt hàng thiết thực trong đời sống thì chỉ có nơi thiếu ít, nơi hụt nhiều chứ chẳng có nơi nào dư dả. Bí thư Thành ủy Võ Văn Kiệt và những lãnh đạo thành phố phải họp hành ngày đêm với các đơn vị sản xuất, tính toán, cân đối trước sau thật kỹ, bà Ba Thi mới có thể đem được hàng hóa về nông thôn đổi gạo.

TT – Ông Lữ Minh Châu, nguyên thống đốc Ngân hàng Nhà nước, người cùng bà Ba Thi lo chạy gạo cho TP.HCM, vẫn nhớ Bí thư Thành ủy Võ Văn Kiệt rất trăn trở chuyện người dân bị đói.

Đến giữa những năm 1980, gạo miền Tây đã về TP.HCM nhiều hơn – Ảnh tư liệu

Khi gạo về rồi, ông lại lo phân phối thế nào cho đúng người cần, cho công bằng.

Nếu không cẩn thận, hạt gạo đẫm mồ hôi từ nông dân miền Tây khó nhọc lắm mới về được thành phố lại rơi vào tay đầu cơ kiếm lời.

“Gạo tổ” xuống khu phố

Bà Ba Thi cũng hiểu rất rõ vấn đề nhạy cảm này. Khâu phân phối còn phức tạp hơn cả khâu thu mua, vận chuyển vì đụng chạm đến từng bữa đói bữa no của người dân nghèo khó.

Mọi lý lẽ chính trị đều trở thành sáo rỗng, thậm chí là lừa gạt, khi cái bụng người dân bị đói.

Trong mỗi gia đình phụ nữ luôn là người căng thẳng nhất với nồi cơm đầy vơi của chồng con mình. Từng sát sao với hội phụ nữ từ hồi kháng chiến, bà Ba Thi suy nghĩ phải tận dụng chính hệ thống này để đưa gạo đến tay người dân.

“Một hôm cô Nguyễn Thị Một, người từng tham gia cách mạng từ thời Mặt trận Bình dân và chịu tù đày, tới thăm chúng tôi kể chuyện mình về hưu rảnh rỗi, ngồi sàng sẩy gạo sạch chia lại cho bà con ăn. Hồi những năm đầu 1980 phẩm cấp gạo còn tệ lắm, đa số đều lẫn lộn vỏ trấu, đá sạn, bông cỏ, phân gián, cứt chuột…

Nhiều người bị đau bao tử hay mẻ cả răng vì nhai phải cơm trộn… đá này. Trước khi nấu ăn, người ta phải mất thời gian đổ gạo ra mâm, ngồi lựa lại mất rất nhiều thời gian.

Cô Một biết chuyện nhận làm việc này, chỉ lấy lại chút đỉnh gọi là tiền công. Người dân bận bịu, thích lắm, vì tính ra vẫn rẻ hơn mua gạo sạch ở chợ” – bà Nguyễn Thị Kim Anh, một trong những thành viên đầu tiên cùng bà Ba Thi chạy gạo cho thành phố, nhớ lại.

Nghe bà Một kể chuyện, bà Ba Thi lóe lên suy nghĩ nói sẽ giao thử 1 tấn gạo cho người chị kháng chiến này để tổ chức phụ nữ làm sạch lại gạo bán cho người tiêu dùng. Nguyên tắc là không đặt nặng lợi nhuận mà chỉ bù đắp công.

Chuyện trơn tru, bà Ba Thi đích thân đi nghe dư luận tốt đẹp, rồi bắt đầu mở rộng mạng lưới đại lý gạo xuống tận phường, tổ. Thay vì sử dụng mậu dịch viên cồng kềnh biên chế và chịu nhiều điều tiếng như ở miền Bắc, bà Ba Thi bàn với Thành hội Phụ nữ phát huy sức mạnh của hệ thống này.

Những người trực tiếp làm việc ở đại lý trao gạo đến tay dân đều được ưu tiên tuyển chọn từ gia đình chính sách. Thậm chí chính quyền địa phương còn xác nhận họ đủ ba tiêu chuẩn: tin cậy về tiền bạc, nhiệt tình cách mạng và có hoàn cảnh khó khăn.

“Hồi đầu một số cán bộ, cựu chiến binh cũng nhìn chị em chúng tôi bằng ánh mắt dè dặt lẫn giám sát. Hình như họ đã có định kiến với mậu dịch viên nhà nước. Tuy nhiên sau đó mọi người thay đổi hẳn, tin tưởng nhau thiệt tình như con cháu, chị em trong nhà”.

Bà Nguyễn Thị Hồng kể thay vì lãnh lương nhà nước và được ưu tiên cấp mặt bằng để kinh doanh như mậu dịch viên, hầu hết người trong hệ thống đại lý gạo của hội phụ nữ chỉ nhận hoa hồng từ nguồn cung cấp gạo.

Họ tự lấy nhà mình làm điểm buôn bán, thậm chí đạp cả xe ba gác chở gạo đến từng tổ dân phố. Mọi chi phí kinh doanh đều được giảm thiểu để giá gạo đại lý luôn rẻ hơn gạo “chợ trời” 15-20% dù phẩm cấp ngang bằng.

Để tránh tình trạng lợi dụng tuồn gạo ra tư thương, mỗi đại lý chỉ đảm nhiệm khu vực khoảng 100 hộ dân (tương đương 500 nhân khẩu). Tuy mua nhanh bán gọn, nhưng tất cả vẫn được ghi chi tiết sổ sách để có thể kiểm tra hạt gạo đến đúng nồi cơm người dân.

Cạnh tranh gạo chợ

Những năm cuối thập niên 1970 và thập niên 1980, thị trường TP.HCM liên tục lên cơn “sốt” khan hiếm hàng hóa với giá cả leo thang phi mã.

Ngoài “sốt” thật do đổi tiền và hoàn cảnh thực tế khó khăn còn có lý do từ tin đồn. Một số mặt hàng người dân còn thắt lưng buộc bụng, nhưng thứ quá thiết yếu như lương thực thì không thể được.

Nó sẽ dẫn đến những hệ quả xã hội không thể lường. Chính ông Võ Văn Kiệt đã chỉ đạo Công ty Kinh doanh lương thực thành phố (khởi đầu là tổ thu mua lúa gạo của bà Ba Thi) phải góp phần quan trọng trong việc giảm “sốt” thị trường để lo đời sống người dân.

Từ đại lý gạo ở phường, tổ, hệ thống này đã vào cả các chợ mà trước đây luôn là thế mạnh tư thương.

Đến cuối tháng 3-1985, gần 2.700 đại lý bán gạo đã tiếp cận các khu dân cư cùng 791 đại lý xuất hiện ở các chợ. Số lượng gạo và giá cả đến tay người dân đã giảm hẳn những cơn “sốt” ảnh hưởng đến bữa ăn người dân.

Tổ thu mua có rất nhiều kỷ niệm vui với nông dân, nhưng cũng có số kỷ niệm ngậm ngùi mà những người trong cuộc như bà Kim Anh, ông Quang không thể nào quên.

“Một lần bà Ba Thi về huyện Phụng Hiệp, Hậu Giang mua lúa. Chị Bảy Minh Châu, chủ tịch hội phụ nữ tỉnh, nhiệt tình kêu thêm chị em địa phương đi giúp. Hai chiếc ghe cỡ 100 tấn được các chị Hương, Đèo, Út, Dung giữ máy chạy đến chợ Ngã Năm để mua lúa gạo.

Ghe đến chợ Bún Tàu thì hết xăng, người xuống sông đẩy, người ở trên tìm xăng châm thêm.

Có lẽ lúc máy nổ, ghe rung mạnh nên can xăng bị lật, bốc cháy. Chị Đèo vì cố cứu 5.000 đồng tiền mua lúa nên bị phỏng nặng và không qua khỏi” – ông Quang tâm sự có những kỷ niệm xúc động về tình người địa phương như vậy.

“Tình hình có vẻ tạm ổn, nhưng thật sự chúng tôi vẫn còn lo lắm. Miếng ăn nhạt nhẽo, khô cứng của hạt bo bo vẫn còn ám ảnh người dân thành phố.

Chiến tranh hai đầu biên giới rồi bão lũ, mùa vụ thất bát vẫn triền miên. Cảnh người dân sống nay biết nay, ngày ngày cắp rá đi mua vài ký gạo vì không có tiền vẫn đại trà khắp thành phố” – ông Nguyễn Văn Quang, thành viên thời kỳ đầu tổ thu mua lúa gạo, kể chuyện chạy gạo cho thành phố là nỗi lo luẩn quẩn không dứt.

Để đảm bảo nguồn cung gạo không bấp bênh, tổ thu mua phải cử người cắm chốt cùng nông dân miền Tây. Tuy nhiên, họ không chỉ nằm chực chờ lúa chín mà còn phải hiểu địa phương cần gì để trao đổi hai chiều một cách thiết thực.

Trong nhiều trường hợp, họ đã chủ động xé rào ngăn sông cấm chợ, đem cái tồn từ nơi này đến nơi thiếu hụt và ngược lại. Khi Cửu Long, Tiền Giang cần phân bón, họ xoay tìm 4.000 tấn chở xuống tận tỉnh.

Biện pháp thiết thực đem lại hiệu quả nhanh chóng. Ngay vụ mùa đó, họ được địa phương ưu tiên bán lại lúa gạo.

Khi các nhà máy xay xát dưới tỉnh cạn kiệt xăng dầu hoạt động, họ lại tìm nguồn nguyên liệu để giao cho họ làm việc. Rồi sau đó các nhà máy này lại trở thành chỗ thân thiết của Công ty Lương thực thành phố.

Ngày nay nâng chén cơm trắng không biết mấy người đứng tuổi còn ký ức về hai loại quốc doanh và gạo chợ một thời khó khăn. Nhưng ngày ấy chuyện này ám ảnh từng bữa cơm người dân.

Gạo quốc doanh lấy từ kho ra luôn đầy sạn và “man mác” mùi ẩm mốc, phân gián, phân chuột. Người cầm sổ nhà nước đi mua, mà đặc biệt là các bếp ăn tập thể ở xí nghiệp, ký túc xá thường xuyên được thưởng thức chén cơm đầy “hương vị” khó ngửi này.

Còn những người đủ điều kiện hơn có thể ăn loại gạo chợ bao giờ cũng hơn hẳn phẩm cấp trắng sạch.

Ông Quang kể bà Ba Thi vào bếp ăn người dân, hiểu rõ thực tế này, nên luôn cố gắng trao đến tay người dân loại gạo tốt hơn hẳn cái mác “quốc doanh”.

Khi nhận gạo từ các tỉnh, Công ty Kinh doanh lương thực TP.HCM luôn yêu cầu được xay trắng hoặc xát lại cho đạt tiêu chuẩn gạo sạch.

Thậm chí bà Ba Thi còn chủ động xuất mua một số máy lau gạo để trang bị cho các cửa hành kinh doanh lương thực của mình. Hình ảnh xấu về gạo “quốc doanh” được thay đổi, giới tư thương cũng không còn độc quyền gạo ngon.

Chén cơm của người dân được cải thiện rõ rệt.

TT – Sau khi thị sát tình hình Nam bộ, phó thủ tướng Phạm Hùng phát biểu ngày 10-9-1979 ở TP.HCM: “Nhiều tỉnh đã tiến hành tập thể hóa theo kiểu mệnh lệnh, gò ép.

Lúa miến (sorghum) – nỗi ám ảnh một thời đối với người dân VN với tên gọi bo bo – Ảnh tư liệu

Chẳng những thế còn có tình hình ức hiếp, còng kẹp, tập trung học tập để gò ép vào tập đoàn. Các tập đoàn không có nội dung nhưng vì sợ phê bình làm chậm nên thành lập vội vã. Có nơi tình hình này rất nghiêm trọng: đánh trói nông dân, bắt tập trung học tập cải tạo cho thông rồi mới cho về…”.

Hậu quả là sản lượng lương thực Nhà nước huy động trong năm 1979 chỉ còn được 1,45 triệu tấn, sút giảm nghiêm trọng so với 2,04 triệu tấn năm 1976. Sản lượng lúa đầu người, tức nồi cơm người dân, cũng giảm từ 211 kg/người năm 1976 xuống còn 157 kg/người năm 1980.

Bo bo cứu đói

Trong hồi ký của mình, nguyên phó thủ tướng Trần Phương kể: “Nhiệm vụ nặng nhất của Chính phủ và của phó thủ tướng phụ trách lưu thông hồi ấy là chạy gạo. Nhu cầu gạo ăn và thóc giống mỗi năm phải đảm bảo tối thiểu 300kg thóc/đầu người.

Dưới mức ấy phải “vác rá” đi xin viện trợ của các nước anh em hoặc vay nợ để mua lương thực”. Chính vì tình hình nghiêm trọng như vậy nên cơ cấu bữa ăn được độn cả rau, khoai vào, mà đặc biệt là bo bo đã thành nỗi ám ảnh của người dân.

Giáo sư Nguyễn Văn Luật, nguyên viện trưởng Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long, kể khi còn đi học đã thấy Liên Xô và nhiều nước khác trồng bo bo, nhưng họ ít sử dụng trực tiếp làm thực phẩm cho con người.

Tinh bột chủ yếu trong bữa ăn của họ là khoai tây, bột mì đã qua chế biến và một ít cơm gạo. Loại bo bo mà dân Việt một thời phải trệu trạo nhai để sinh tồn còn gọi lúa miến (sorghum), là loại cây chịu hạn rất tốt.

Vẻ ngoài của nó rất giống cây bắp, nhưng trổ ra chùm nhiều hạt nhỏ như hạt đậu ở phần ngọn. Bo bo có vỏ rất cứng không thể nấu ăn trực tiếp như kiểu người Việt từng phải ăn. Liên Xô, Ấn Độ cùng một số nước khác từng viện trợ và bán nợ bo bo cho VN làm lương thực. Ngoài ra cũng có một số thực hiện theo nghị định thư hàng đổi hàng.

Ngoài bo bo, người dân VN còn ăn độn lúa mì và lúa mạch nguyên hạt chưa xay, được quen gọi chung là bo bo. Theo giáo sư Mai Văn Quyền – chuyên gia cây lương thực, từ thời chiến miền Bắc VN đã nhập lúa mì (wheat) nguyên hạt từ Liên Xô về làm lương thực tạm.

Để làm thực phẩm cho con người phải qua xay xát thải cám, lên men thành bột mì nhưng nhiều đợt VN không có điều kiện làm kịp nên đưa thẳng đến người dân. Ngoài cách ngâm nước, nấu lâu để ăn trực tiếp như cơm, người dân còn tự giã làm bột, nhưng vẫn dai cứng do không lên men được.

Đặc biệt, lúa mì được nhập thời kỳ ấy có phẩm cấp thấp từ đầu nguồn, lại tiếp tục bị suy giảm ở khâu vận chuyển nên thành “miếng khổ nhớ đời”. Miền Bắc từng trồng thử lúa mì vào vụ đông xuân với năng suất 2-3 tấn mỗi mẫu trong thời gian 80-90 ngày nhưng không phát triển đại trà được vì sâu bệnh…

Riêng lúa mạch (barley) chủ yếu dùng trong công nghiệp chế biến rượu bia, thức ăn gia súc và nhiên liệu sinh học. Một số ít được làm bánh kẹo truyền thống nhưng phải qua xay xát kỹ và trộn thêm với các loại bột khác như bột mì, bắp và sữa.

Nó không được làm thức ăn trực tiếp như gạo nấu cơm ăn ngay cho con người. Tuy nhiên, người VN cũng từng trệu trao nhai nó trong thời đói kém.

Ông Hải (nhân viên Sở Ngoại vụ TP.HCM) với thùng sắt đựng bo bo được giữ làm kỷ niệm: “Bo bo ăn thế nào ra thế đấy, nhưng nó đã cứu đói gia đình tôi” – Ảnh: Q.V.

Từng được trồng, nhưng dân chê

Giáo sư Võ Tòng Xuân nhớ: “Năm 1972, miền Nam đưa hạt giống bo bo, tức lúa miến, về trồng trong chương trình đa canh hóa. Đầu tiên bo bo được trồng thí nghiệm ở Cần Thơ và Bình Đức, An Giang. Sau mùa thu hoạch lúa nổi tháng 12, hạt bo bo được gieo.

Hồi ấy vùng đất này rất màu mỡ nhờ phù sa lũ và rơm rạ sau vụ lúa. Sản lượng bo bo trồng khoảng 3-4 tấn/ha qua ba tháng”. Sau năm 1975, bo bo tiếp tục được trồng ở vùng này trong chương trình mở rộng nguồn lương thực vì hoàn cảnh khó khăn. Tuy nhiên nó không được phát triển đại trà vì bị dân chê khó ăn.

Giáo sư Luật chưa quên miền Bắc sau năm 1975 cũng trồng thử cây này nhưng không thể mở rộng vì năng suất kém. Vợ ông Luật từng nhận ít hạt bo bo về trồng ở vườn mà chưa lần nào được ăn.

Mới đầu hàng xóm tưởng giống bắp mới, nhưng nó không cho trái lớn mà đậu thành từng chùm hạt tròn và bị sâu bệnh phá hoại dữ dội. Hiện nay hầu như chỉ một số vùng núi Tây Bắc và Bắc Trung bộ còn lẻ tẻ trồng bo bo phù hợp với đất khô nóng.

Hồi khó khăn, gia đình ông Luật ở Thanh Trì, Hà Nội, được phân phối bo bo. Với tem phiếu giáo viên, bà Trần Thị Minh Thu, vợ ông, được mua 13kg lương thực. Có đợt bà nhận một nửa bo bo, nửa gạo, có đợt toàn bo bo.

“Hồi ấy đói khủng khiếp. Những nhà không có tem phiếu càng đói gay gắt. Bây giờ nghĩ lại không hiểu sao mình ăn bo bo nổi. Thế mà hồi ấy nó vẫn bị người ta ăn cắp vì quá đói”- bà Thu kể mình đi dạy cất bọc bo bo ở góc phòng bị lấy mất.

Bà phải vay tiền ra mua tạm ngoài chợ đen với giá đắt hơn gấp mấy lần. Con bà lúc ấy mới 5 tuổi cũng phải nhai bo bo cứng ngắc, nên nhà lúc nào cũng lộp cộp tiếng giã bo bo trong cối giã cua…

Đến giờ ông Nguyễn Nhật Tân, lúc đó là thứ trưởng Bộ Ngoại thương, vẫn nhớ chính vì bữa ăn người dân khổ sở như vậy nên Chính phủ phải căng thẳng xoay xở. Tàu vận chuyển vừa về Hải Phòng hay TP.HCM là phải nhanh chóng bốc dỡ đưa về hệ thống phân phối quốc doanh cho dân ăn.

Có giai đoạn việc dỡ hàng bị chậm trễ trong lúc dân thiếu đói gay gắt, chính các ông Đỗ Mười, Đinh Đức Thiện và Đồng Sỹ Nguyên đều phải lần lượt xuống giải tỏa bằng kỷ luật quân đội.

Lãnh đạo các tỉnh trông vào nguồn lương thực từ cảng Hải Phòng cũng dồn về. Nhiều đêm đến 2g sáng họ còn đứng ở cảng. Nhưng họ vừa về Hà Nội tình hình lại như cũ, kể cả nạn ăn cắp bùng nổ. Công nhân quá khổ không trộm được nguyên bao thì dùng ống sắt, ống trúc chọc thủng bao bo bo, gạo cho chảy vào túi mình.

Tôi lớn lên, không biết bo bo là gì…

Tôi lớn lên khi đất nước không còn chia Bắc- Nam
Chẳng biết chiến tranh là gì, chỉ được nghe trong những câu chuyện của cha
Tôi lớn lên khi tháng tháng không còn lo phiếu tem
Không biết bo bo là gì, chỉ còn lại trong những ký ức của mẹ…
…Rồi ngày tháng trôi
Bao đổi thay đến với cuộc đời
Thì trong trái tim tôi luôn tự hào là người VN
Màu cờ thắm tươi vẫn phấp phới với những cuộc đời
Lòng bồi hồi nhớ…

(Trích lời ca khúc Lá cờ
của nhạc sĩ trẻ TẠ QUANG THẮNG)

_________

Khó thể tưởng tượng một đất nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới mà thời ấy phải chạy vạy vay mượn lương thực nước ngoài.

T – “VN đang thiếu lương thực. Nước bạn trúng mùa, không đủ chỗ bảo quản, phải để hư hao ngoài đồng. Vậy cho chúng tôi giữ giúp, bảo đảm sẽ trả lại các bạn đầy đủ”.

Nguyên thứ trưởng Bộ Lương thực Nguyễn Nhật Tân kể sau năm 1975, đất nước thiếu hụt lương thực đến mức báo động đỏ.

Ông Nguyễn Nhật Tân – Ảnh: Q.V.

Ông Tân theo dõi truyền thông biết Ấn Độ trúng mùa. Bay ngay qua quốc gia thân thiện này, ông nói với họ như vậy và nhận được kết quả tốt đẹp.

Chạy gạo nơi xứ người

Ấn Độ đồng ý cho VN mượn 300.000 tấn lúa mì, loại ngũ cốc họ trồng rất nhiều. Họ sẽ chuyển đợt đầu 100.000 tấn, đợt sau 200.000 tấn.

Ông Tân điện báo về Chính phủ, ai cũng vui. Tuy nhiên, ngay sau đó lại phải giải tiếp một bài toán khác. Khả năng tàu biển VN hồi ấy còn rất hạn chế, không thể vận chuyển nhanh số lương thực này về trong khi nhu cầu dân ăn quá cấp bách.

“Đặc biệt năng lực xay xát của mình cũng không thể làm bột kịp 300.000 tấn lúa mì này, mà dân thì quá ngán ngẩm món bo bo nguyên hạt khô cứng như đá sỏi rồi” – ông Tân kể chính mình lại phải thương thuyết nhờ Ấn Độ xay xát giúp.

VN nhận 70% lượng bột, phần còn lại xem như khấu hao xay xát và trả công cho họ. Rất vui là Ấn Độ tiếp tục đồng ý.

Ngoài Ấn Độ, thứ trưởng Tân lại bay sang Indonesia. Cùng đi với ông còn có phó thống đốc ngân hàng. Ông vẫn nói với họ để VN “giữ giùm” lượng lương thực trúng mùa đang phải để hư hỏng ngoài đồng. Tuy nhiên, tình hình quốc gia này đối với VN hơi khác biệt.

Trong khi Ấn Độ từ trước đã ngỏ lời giúp đỡ VN (và từng giúp đỡ), còn Indonesia thì không có. Đó là thời kỳ cánh quân sự do tổng thống Suharto nắm quyền. Trước khi đi, ông Tân phải xin phép các ông Đỗ Mười, Tố Hữu và Võ Văn Kiệt.

Trung tướng Arafin được Suharto cử tiếp đoàn. Không khí tiếp đón khá trọng thị. Tướng Arafin kể mình rất quan tâm cuộc chiến VN và ngưỡng mộ tài tướng Võ Nguyên Giáp. Riêng ông Arafin đồng ý ngay cho VN mua nợ lương thực nhưng phải trình lên tổng thống.

Cuối cùng Indonesia đồng ý bán nợ cho VN 200.000 tấn gạo chia làm hai đợt. Họ cũng mời ông Võ Văn Kiệt sang thăm và tiếp tục thương thảo vấn đề này.

Đặc biệt, Bộ Lương thực còn xoay xở một nguồn lương thực quan trọng từ Công ty Ipitrade, Pháp. Đây là doanh nghiệp của ông Doumeng, một “triệu phú đỏ” thuộc Đảng Cộng sản Pháp và thân thiện với VN.

Chính ông Doumeng tìm kiếm nguồn cung cấp rồi mua bằng tiền mặt 500.000 tấn gạo của Thái Lan để bán nợ lại cho VN.

Sau đó, thương vụ đặc biệt này lại tiếp tục được thực hiện nhiều lần. “Tôi làm việc trực tiếp với ông Doumeng ở Pháp. Ông có kỷ niệm sâu sắc với Chủ tịch Hồ Chí Minh, và đã trực tiếp giúp lương thực cho VN trong thời kỳ căng thẳng nhất” – ông Tân tâm sự thêm nếu không có nguồn tiền từ ông Doumeng, VN sẽ rất khó mua nợ được lương thực với số lượng lớn ở thời điểm khó khăn ấy.

Ngoài tìm kiếm nguồn lương thực trực tiếp từ nước ngoài, VN còn có nhiều cách xoay xở khá độc đáo.

Ông Tân kể đã từng xuất 200.000 tấn gạo miền Nam ngay trong lúc đang thiếu thốn để nhập tấm về ăn. Dân Sài Gòn không lạ cơm tấm, nhưng người Hà Nội tò mò và rất thích, vì dù sao vẫn ngon hơn hạt bo bo khô cứng.

Cái “lời” rõ ràng là lấy tiền xuất lượng gạo này, ông Tân vẫn mua được 200.000 tấn tấm trong khi còn dư tiền để nhập phân bón mà đất nước hồi ấy rất cần.

Một cảnh chen chúc mua hàng ở cửa hàng thực phẩm thời bao cấp – Ảnh tư liệu

Từ Nam ra Bắc

Đặc biệt, việc xoay xở miếng ăn cho đất nước một thời thiếu đói không chỉ hoàn toàn dựa vào lương thực nước ngoài, mà còn xoay xở từ chính trong nước như “lá lành đùm lá rách” hay “lá rách ít đùm lá rách nhiều hơn”.

Cùng với các phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng khác đều có nhiệm vụ giải quyết lương thực cấp bách, tướng Đồng Sỹ Nguyên được phân công cùng Bộ Nông nghiệp, Bộ Lương thực lo việc thu mua, vận chuyển lương thực từ các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long ra Bắc và từ nước ngoài về.

Trong hồi ký Trọn một con đường, tướng Đồng Sỹ Nguyên xúc động ghi: “Tôi nhớ lại những ngày ở Hà Nội, hầu như ngày nào anh Tô (tức Thủ tướng Phạm Văn Đồng) cũng hỏi tôi về tình hình lương thực cho Hà Nội, cho các tỉnh phía Bắc với nỗi băn khoăn, day dứt như mang nợ, mắc tội với nhân dân”.

Tâm sự với người viết, ông kể thêm giai đoạn tham gia chạy miếng ăn cho nhân dân, ông ra Bắc vào Nam như con thoi và hơn nửa thời gian trong Nam.

Cùng bộ trưởng lương thực trên hai chiếc Lada với vài bảo vệ, thư ký, cần vụ, có ngày ông làm việc qua ba tỉnh. Nhiều đêm đến 2g sáng họ vẫn còn đang thị sát tình hình cảng xuất nhập.

Những năm sau 1975 tàu bè còn rất thiếu, việc vận chuyển lương thực phải sử dụng cả phương tiện của quân đội. Hầu hết là tàu biển pha sông tải trọng khoảng 1.200 tấn có thể đi biển lẫn đường sông, và một số tàu 5.000-10.000 tấn cũng được sử dụng để chuyên chở kịp thời lương thực giải tỏa tình hình thiếu hụt nghiêm trọng ở miền Bắc.

Cảng Hải Phòng suốt một thời gian dài luôn nghẽn hàng vì hoạt động quá tải. Chính vị tướng nổi tiếng Đinh Đức Thiện cũng phải trực tiếp về chỉ đạo quân đội tháo dỡ hàng nghẽn ở cảng. Hải Phòng không xuể, các cảng nhỏ ở Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa cũng được sử dụng để đưa lương thực về tay người dân.

Đại tá Vũ Huy Lễ, thuyền trưởng tàu HQ 505 từng chiến đấu và ủi lên đảo chìm Colin để bảo vệ chủ quyền Trường Sa năm 1988, nhớ lại chính hải đội này cũng tham gia chở gạo miền Nam ra Bắc theo yêu cầu khẩn cấp. HQ 505 là tàu đổ bộ hạng nặng vào lúc bấy giờ do Mỹ để lại cho quân đội Sài Gòn.

Sau năm 1975, nó tiếp tục được sử dụng để xây dựng, bảo vệ quần đảo Trường Sa. Giai đoạn thiếu hụt lương thực trước năm 1988, nó từng được trưng dụng để chở gạo vào cảng Hải Phòng.

“Vì là dương vận hạm nên chở được rất nhiều gạo và an toàn, nhất là vào mùa biển động. Chúng tôi lên gạo từ cảng Sài Gòn, Cần Thơ, rồi cập cảng Hải Phòng”.

Nguyên phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đoàn Duy Thành cũng có kỷ niệm khó quên về một thời chạy gạo khi còn đương chức chủ tịch Hải Phòng:

“Thành phố tổ chức đoàn cán bộ vào miền Nam xoay gạo. Chúng tôi đi đường bộ suốt mấy ngày. Lãnh đạo tỉnh Cửu Long kết nghĩa (nay là Trà Vinh, Vĩnh Long) tiếp đón thân tình nhưng không… bán gạo, mặc dù giám đốc sở nông nghiệp tỉnh từng là thành ủy viên Hải Phòng”.

Ông Thành nhớ lại: không hiểu đêm đó địa phương bàn lại thế nào mà sáng hôm sau lại quyết định bán 1.000 tấn lúa. Không bõ công chuyến đi xa, ông Thành dẫn đoàn qua Hậu Giang tìm mua gạo. Thương vụ bên đây chóng vánh hơn.

Chỉ hai giờ bàn bạc, Hậu Giang đã quyết định bán cho Hải Phòng 2.000 tấn gạo, thanh toán bằng cách đổi hàng công nghiệp.

Lẽ ra chuyến chạy gạo của Hải Phòng đã thành công vui vẻ nếu đường về qua Khánh Hòa ông Nguyễn Văn Sinh, chuyên viên văn phòng Ủy ban Hải Phòng, không bị đột tử vì bệnh tim.

Mua được ít lúa gạo lại bất ngờ mất một người. Kể từ đoạn Nha Trang, đoàn xe về Hải Phòng có chiếc quan tài lặng lẽ nằm khuất bên trong…

____________

Để giải quyết vấn đề ngoại tệ cho những nhu cầu cấp bách của quốc gia, trong đó có lương thực của người dân, một thương vụ đặc biệt được thực thi: bán vàng! Và chuyện này có liên quan đến 16 tấn vàng của chính quyền Sài Gòn để lại sau ngày 30-4-1975?

TT – Sau loạt bài “Câu chuyện 16 tấn vàng ngày 30-4-1975” đăng trênTuổi Trẻ tháng 4-2006, nhiều bạn đọc đã đặt câu hỏi: 16 tấn vàng của chính quyền Sài Gòn để lại được sử dụng thế nào? .

       

Những đoạn liên quan đến việc bán 40 tấn vàng trong cuốn sách Lịch sử Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

Nguyên thống đốc Ngân hàng Nhà nước VN Lữ Minh Châu đã trả lời câu hỏi này: “Nó đã được bán ra quốc tế trong tổng số hơn 40 tấn vàng để giải quyết những vấn đề khó khăn cấp bách của quốc gia, trong đó có miếng ăn của người dân”.

Đến nay những người trong cuộc vẫn còn nhớ rất rõ thương vụ đặc biệt này.

Qua kênh Liên Xô

“Chuyến hàng đầu tiên rời Hà Nội ngày 1-12-1979, số lượng 101 hòm, nặng 4.455kg… Sau đó là những hợp đồng giao vàng tái chế, vay mượn, cầm cố bán vàng với số lượng hơn 40 tấn, thu được trên 500 triệu USD”- đó là một đoạn trích phát biểu của ông Nguyễn Văn Dễ, nguyên tổng giám đốc Ngân hàng Vietcombank, được ghi lại trong cuốn Lịch sử Ngân hàng Ngoại thương VN.

Trao đổi trực tiếp với người viết, ông Dễ tâm sự sau năm 1975 VN rất cần ngoại tệ để giải quyết những nhu cầu cấp bách của quốc gia như mua lương thực, nguyên liệu, trả nợ quốc tế đến hạn phải trả… Đặc biệt là miếng ăn của người dân thiếu hụt đến mức phải ăn trực tiếp cả hạt bo bo chưa kịp xay xát, loại lúa mì, lúa mạch phẩm cấp thấp. Các lãnh đạo chủ chốt của Chính phủ đều phải dành nhiều thời gian chạy gạo cho thấy tình hình hết sức khẩn cấp…

Để tháo gỡ các vấn đề này, nội lực nông nghiệp trong nước lúc ấy không đáp ứng nổi, đòi hỏi phải trông ra nguồn lương thực quốc tế. Nhưng có mua nợ thì cũng phải trả, và lấy ngoại tệ ở đâu ra? Giải pháp khả thi nhất bấy giờ là bán vàng lấy ngoại tệ. Tuy nhiên, thương vụ đặc biệt này hoàn toàn không đơn giản như nhiều người nghĩ, kể cả một số cán bộ cấp cao. Bởi nguồn vàng của miền Nam thì có nhưng lại “kẹt” ở xuất xứ của VN cộng hòa, nhất là lại đang trong giai đoạn cấm vận gay gắt của Mỹ.

Cuốn Lịch sử Ngân hàng Ngoại thương ghi lại: “Kho vàng lúc ấy như sau: ngoài số vàng không đáng kể của miền Bắc (đơn vị tạ), Ngân hàng Nhà nước đã tiếp nhận vàng của chính quyền Sài Gòn và vàng của các nguồn khác. Cơ cấu của kho vàng rất không “đồng bộ”: vàng thỏi của Anh mỗi thỏi nặng 12,7kg, vàng thỏi của Mỹ mỗi thỏi nặng 10kg. Các thỏi đều có mã riêng, nhãn hiệu, xuất xứ. Ngoài vàng thỏi còn có các loại vàng lá Kim Thành, các loại vàng vụn (kể cả nhẫn, vòng, kiềng)”.

“Ban đầu những người có trách nhiệm đều nghĩ đơn giản: ta có vàng, đem bán lấy ngoại tệ, việc đó đâu có khó. Nhưng ngay tại phiên giao dịch đầu tiên có tính chất thăm dò với Liên Xô, các bạn Liên Xô cho biết hàng hóa trên thị trường vàng quốc tế phải là những thỏi vàng chuẩn của Anh, Mỹ hoặc Liên Xô. Các loại vàng thỏi Anh, Mỹ… có xuất xứ tại VN không thể tiêu thụ trên thị trường vì có quá nhiều rủi ro do chính sách cấm vận của Mỹ đối với VN”.

Nhắc lại thế bí này, ông Dễ kể VN và Liên Xô đã bàn bạc với nhau và thống nhất phải tái chế vàng theo tiêu chuẩn của Liên Xô, mỗi thỏi 1kg. Khoảng cuối năm 1979, theo lệnh của Chính phủ và sự ủy nhiệm của Ngân hàng Nhà nước, Vietcombank ký với Liên Xô các hợp đồng tái chế vàng, vay mượn cầm cố vàng và tiêu thụ vàng trên thị trường thế giới.

“Liên Xô lúc ấy rất thân thiện, giúp đỡ VN. Tôi bay sang đó liên tục và thường chỉ có món quà duy nhất là mấy chai Nếp Mới mà họ gọi là vodka VN” – ông Dễ nhớ phía Liên Xô cung cấp các hòm thép tiêu chuẩn ngân hàng của họ. Việc chuyên chở vàng được thực hiện bằng máy bay thương mại Liên Xô, nhưng quá trình thực hiện được bảo mật để hành khách không được biết loại hàng đặc biệt này.

Ông Nguyễn Duy Lộ, người tham gia thương vụ đặc biệt 40 tấn vàng năm 1979 – Ảnh: Q.V.

Những kiện hàng bí mật trên Aeroflot

Là người tham gia nhiệm vụ này ở đoạn trong nước, nguyên phó tổng giám đốc Vietcombank Nguyễn Duy Lộ cũng không quên: “Ông Dễ phụ trách đoạn ở Liên Xô. Còn tôi là thành viên hội đồng kiểm kê quốc gia lo những việc trong nước như kiểm kê số lượng vàng, đóng hòm theo tiêu chuẩn và niêm phong. Vàng từ kho ngân hàng được bảo mật chở ra sân bay Nội Bài. Công tác bảo vệ rất kín. Tôi kiểm tra niêm phong, hoàn tất thủ tục xong mới chuyển ra máy bay của Hãng hàng không Liên Xô. Ngay cả nhân viên sân bay cũng ít người được biết loại hàng đặc biệt này”.

Khi các hòm vàng được đưa lên máy bay, ông Nguyễn Văn Dễ lúc ấy là phó tổng giám đốc Vietcombank có nhiệm vụ trực tiếp theo chuyến bay của Hãng hàng không Aeroflot. Ông được cấp hộ chiếu ngoại giao đi Liên Xô bất cứ lúc nào cũng được để lo đàm phán, ký kết hợp đồng giao hàng, tái chế vay cầm cố bằng vàng, bán hàng với Ngân hàng Ngoại thương Liên Xô. Máy bay hạ cánh, ngân hàng phía Liên Xô có xe bọc thép đón sẵn. Họ không mở hòm, kiểm đếm số lượng vàng trong đó mà chỉ niêm phong rồi tiếp tục chuyển về kho bảo mật.

Nhiều năm sau, ông Dễ vẫn nhớ rất chi tiết: “Tất cả khoảng hơn 40 tấn, trong đó có 16 tấn vàng thỏi tiếp quản của ngân hàng VN cộng hòa, còn lại là các loại vàng khác nhau từ những nguồn khác. Ngay sau chuyến đầu tiên chuyển đi 4.455kg trong 101 hòm vào ngày 1-12-1979, Chính phủ VN đã gửi công hàm đến Liên Xô đề nghị vay 100 triệu USD để dự phòng thanh toán nợ đến hạn trong khi chưa có nguồn thu xuất khẩu”.

Chính ông Dễ được Bộ Ngoại giao ủy nhiệm ký hợp đồng vay ngoại tệ này. Phía Liên Xô đồng ý cho vay, nhưng phải theo thông lệ thương mại quốc tế vì họ cũng không có ngoại tệ dư thừa, phải huy động từ thị trường tự do.Theo đó, VN chỉ có thể được vay với điều kiện thế chấp bằng chính số lượng vàng chuyển sang Liên Xô. Hiệp định vay 100 triệu USD thế chấp bằng vàng đã hoàn tất vào khoảng tháng 3-1980.

“Sở dĩ VN phải vay nóng ngoại tệ như vậy bởi lượng vàng chuyển sang tái chế ở Liên Xô không kịp đem ra thị trường bán, trong đó có Thụy Sĩ. Các nhu cầu cấp bách của quốc gia gồm cả vấn đề nóng bỏng lương thực cho người dân đòi hỏi phải có ngoại tệ ngay. Sau đó VN dùng tiền bán vàng trả lại cho Liên Xô”.

Hầu như tháng nào ông Dễ cũng bay sang Liên Xô. Hơn 40 tấn vàng được chuyển đi nhiều đợt. Nhiệm vụ bảo vệ của VN chỉ đảm trách đến khi đưa lên máy bay Liên Xô, sau đó thuộc trách nhiệm của họ. Khoảng năm 1988, Vietcombank đã chuyển về nước lại khoảng 2,7 tấn vàng còn gửi tại Liên Xô do tình hình bất ổn của họ. Đặc biệt, khoảng 5,7 tấn vàng gửi tại Ngân hàng Thụy Sĩ cũng được VN chuyển về Tiệp Khắc. Họ đã bán giúp để VN lấy ngoại tệ sử dụng cho nhu cầu quốc dân. Trước khi Tiệp Khắc gặp biến động chính trị, khoảng 500kg vàng VN còn lại ở nước họ cũng được chuyển kịp thời về nước.

____________

Năm 1979, chở 40 tấn vàng đi bán để giải quyết khó khăn cấp bách và để mua gạo. Nhưng 10 năm sau, năm 1989, VN đã nhập vàng về, gấp 4 lần số chở đi bán.Và một đề xuất của bộ trưởng thương mại mà lúc ấy nhiều người cho là “bị điên”: VN xuất khẩu gạo!

TT – Năm 1988 VN rúng động với những thảm cảnh nghèo đói. Chính phủ phải đau đáu trách nhiệm chạy gạo cho dân ăn. Thế mà sang năm 1989 nền nông nghiệp VN như “bước ra từ giấc mơ”.

Hơn 30 năm, nhắc lại lý do nhập vàng, sau khi phải vét ngân khố bán ra 40 tấn, nguyên phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đoàn Duy Thành trầm ngâm kể: “Cuối những năm 1980, VN lạm phát 780%, thực tế còn cao hơn. Người dân đói, phải độn cả bo bo, rau khoai. Tiền mất giá chóng mặt, miếng ăn đồng bào càng teo tóp. Tình hình này cứ kéo dài thì thế nào?”.

Vào thời khó khăn Việt Nam phải vay gạo của Indonesia. Nay thì mỗi năm Việt Nam xuất khẩu hàng trăm tấn gạo sang Indonesia - Ảnh: T.Đạm
Vào thời khó khăn Việt Nam phải vay gạo của Indonesia. Nay thì mỗi năm Việt Nam xuất khẩu hàng trăm tấn gạo sang Indonesia – Ảnh: T.Đạm

Thương vụ nhập vàng

Ông Thành kể cuối năm 1987 có cuộc họp của Bộ Chính trị, Ban bí thư và Thường vụ Hội đồng Bộ trưởng. Chính phủ trình bày biện pháp nhằm tháo gỡ tình hình khó khăn.

Về lương thực thì xuất Nam, nhập Bắc cho nhanh và giảm phí vận tải. Xóa bỏ các trạm kiểm soát ngăn sông cấm chợ, cho thị trường hàng hóa lưu thông. Nhập khẩu và kinh doanh vàng để lấy vàng làm “kim bản vị” góp phần giảm lạm phát…

“Tôi vẫn nhớ sau hai ngày thảo luận, nhiều giải pháp được thông qua, riêng chuyện nhập vàng bị ách lại. Nó làm nhiều người bất ngờ, kể cả một số cán bộ cấp cao. VN vừa phải vét vàng đi bán trả nợ, lo miếng ăn, giờ lại bàn chuyện nhập vàng. Có gì đó mâu thuẫn không?”.

Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh kết luận hội nghị cũng không đá động gì đến vàng. Những người khác cũng không có ý kiến gì.

“Hồi ấy nhiều người vẫn nghĩ vàng bạc là gì to tát, tư sản quá, có phù hợp cho nhà nước xã hội chủ nghĩa làm kinh doanh không. Tôi khẳng định có gì ghê gớm đâu. Hồi còn kháng chiến chống Pháp, tôi biết một gia đình chỉ bán trầu cau ở miền Nam mà cũng mua dành được cả đấu vàng chôn gốc cây. Sau năm 1975 tôi vào chơi, họ vẫn còn giữ được 30 lượng vàng. Dân mình ai chẳng muốn có tí vàng phòng thân. Thật sự vàng là hàng hóa quan trọng, góp phần kiểm soát lạm phát đồng tiền”.

Không nản chí, hôm sau ông Thành tiếp tục thuyết phục ông Phạm Hùng. Sau đó cả hai trình bày lại với ông Nguyễn Văn Linh. Chỉ 15 phút họp trong phòng riêng, ông Linh đồng ý ngay. Khi tiễn khách về, ông Linh còn nói với ông Thành: “Tôi với anh cùng Hai Hùng chịu trách nhiệm với trung ương. Thành cứ làm, nhưng không cần phổ biến rộng”.

Ông Thành về bàn tiếp với tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước Lữ Minh Châu (lúc ấy chưa gọi là thống đốc) và định phân trách nhiệm cho Ngân hàng Nhà nước trực tiếp làm. Tuy nhiên, cuối cùng thương vụ đặc biệt này được giao cho Bộ Ngoại thương do ông Đoàn Duy Thành phụ trách.

Mọi thủ tục được tiến hành khá nhanh. Tổng công ty Xuất nhập khẩu kỹ thuật dầu khí Petechim của Bộ Ngoại thương “mở đường” nhập chuyến đầu tiên làm kinh nghiệm. 15 tấn vàng được đơn vị nhập về từ Hong Kong. Món hàng đặc biệt này được chuyển trên máy bay về TP.HCM.

Các doanh nghiệp, tư nhân xếp hàng đăng ký mua loại vàng thỏi này về chế lại vàng lượng để bán lẻ. Tỉ lệ lời lãi của chuyến kinh doanh này rất cao. Nhà nước thu được ngân sách.

Đồng tiền gây lạm phát trên thị trường cũng hút bớt vào loại hàng hóa đặc biệt này. Các thương vụ kế tiếp được nhanh chóng tiến hành. TP.HCM và các tỉnh phía Nam cử người ra Bộ Ngoại thương để xin quota nhập vàng.

“Tôi còn nhớ trong khi miền Nam tranh kiếm suất nhập vàng thì miền Bắc chỉ có Hà Nội xin nhập 10 tấn. Tuy nhiên thủ tục vay tiền, mở L/C chậm trễ đến sáu tháng mới xong. Chuyến đầu chỉ có 900kg vàng thỏi được chở bằng tàu biển từ Hong Kong về cảng Hải Phòng. Chính ông Trần Tấn, chủ tịch UBND thành phố Hà Nội, chỉ đạo trực tiếp.

Hồi ấy đường 5 Hà Nội – Hải Phòng lại hay bị cướp bóc có vũ khí. Đội bảo vệ phải tính toán đánh lạc hướng. Một lộ trình vòng đặc biệt được thực hiện từ Hải Phòng qua Nam Định ra quốc lộ 1 để về Hà Nội.

Đường xa hơn, nhưng khó ai ngờ xe hàng đặc biệt như vậy lại đi thêm đường vòng”- ông Thành kể thêm xe chở 900kg vàng về đến Hà Nội thì đã giữa đêm, phải tạm dừng ở ngay trụ sở UBND thành phố trong sự bảo vệ chặt chẽ của công an.

Sau đó, chính ông Thành đã góp ý: “Có gần 1 tấn vàng cứ cho vào xe Uoát quân đội chạy một mạch từ Hải Phòng về Hà Nội, rồi gửi ngay vào ngân hàng, làm gì phải đi đường vòng cho người ta thêm nghi ngờ”.

Tổng cộng đến tháng 4-1990, VN đã nhập khoảng 160 tấn vàng, không chỉ đem lại nguồn thu lớn cho ngân sách, mà còn góp phần rất quan trọng hạ cơn sốt lạm phát từ 780% vào năm 1986 xuống còn 67% năm 1990.

Ông Lê Văn Triết, nguyên bộ trưởng thương mại trong cuộc trò chuyện với phóng viên Tuổi Trẻ - Ảnh: Q.V.
Ông Lê Văn Triết, nguyên bộ trưởng thương mại trong cuộc trò chuyện với phóng viên Tuổi Trẻ – Ảnh: Q.V.

“Làn gió đổi mới phả đến từng cánh đồng”

“Hồi cả nước còn chìm ngập trong đói kém, tôi có anh tài xế rất lém. Tranh thủ lúc sáng sớm, anh xếp hàng đi mua rau muống cho vợ con ở Hà Nội. Anh đã mua được một bó tiêu chuẩn, lại quay vòng ra sau xếp hàng để mua thêm bó nữa. Mấy bà phát hiện la làng.

Anh cười hề hề trả lời: “Có gì đâu. Tôi mua cho hôm nay, mua cho ngày mai, mua cho mai sau”- nguyên bộ trưởng Bộ Thương mại Lê Văn Triết vẫn nhớ nhiều kỷ niệm buồn cười và khó quên như vậy. Một kinh nghiệm máu xương cho dân tộc.

Ngay năm 1988 VN còn phải nhập nửa triệu tấn lương thực. Xã hội rúng động với những thảm cảnh nghèo đói như “Cái đêm hôm ấy đêm gì” ở Thanh Hóa. Chính phủ vẫn phải đau đáu trách nhiệm chạy gạo cho dân ăn. Thế mà sang năm 1989 nền nông nghiệp VN như “bước ra từ giấc mơ”: sản xuất được 24,4 triệu tấn lúa.

Ông Lê Văn Triết (lúc ấy là thứ trưởng Bộ Kinh tế đối ngoại) đến gõ cửa Chính phủ xin xuất gạo. Chính ông Phạm Hùng hỏi: “Ông điên à? Mới năm rồi còn nhập gần nửa triệu tấn lương thực cứu đói, sao năm nay lại xuất? Còn việc Chính phủ giao bán 200.000 thùng dầu thô để lấy đôla nhập gạo về, các ông lo xong chưa?”.

“Tôi nắm tình hình vựa lúa miền Tây rồi, năm nay dư gạo ăn. Mình xuất gạo dư lấy đôla nhập phân bón và các nguyên liệu khác”- ông Triết trả lời.

Ông Phạm Hùng im lặng, rồi nói để xem lại. Bất ngờ, ngay tối hôm sau đích thân ông Phạm Hùng gọi điện kêu ông Triết sang. Vừa thấy mặt ông Triết, ông Phạm Hùng nói ngay: “Tôi nắm tình hình rồi. Các anh lo xuất gạo ngay đi”.

Nhiều chuyện như “giấc mơ” từ địa phương. Các trạm thu mua mới năm trước còn vác súng AK ép dân làm nghĩa vụ bán lúa nhà nước. Sang năm 1989, dân ùn ùn chở lúa tới bán theo giá thỏa thuận nhiều đến mức trạm trưởng phải bỏ trốn vì không còn kho trữ. Ông Triết nhớ 1,4 triệu tấn gạo xuất đầu tiên được lấy từ Long An, Tiền Giang, An Giang…

Thị trường xuất là Philippines và một số quốc gia khác. Là giám đốc Sở Nông nghiệp An Giang thời kỳ này, ông Nguyễn Minh Nhị kể: “Làn gió đổi mới xóa bỏ nền nông nghiệp tập thể đã lập tức phả đến từng cánh đồng. Nông dân được trả ruộng, trả máy cày, tự do mua bán. Sản lượng lúa An Giang từ 500.000 tấn năm 1976 tăng lên cả triệu tấn ngay trong vụ mùa năm 1989-1990. Nông dân được bán theo giá thỏa thuận, công ty thu mua không kịp. Gạo An Giang góp phần ngay trong lô xuất đầu tiên”.

Giấc mơ ấm no thành sự thật, xuất phát từ chính thực tiễn thúc đẩy đường lối đổi mới. Cùng với hàng loạt thay đổi tư duy điều hành kinh tế – xã hội như bước ngoặt nông nghiệp đã giúp VN giã từ bo bo.

Và chén cơm người dân đã đầy hơn…

Advertisements
This entry was posted in History. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s