Đường ăn kiêng Aspartame: tránh vỏ dưa, gặp vỏ dừa?

Sợ đường huyết tăng cao, sợ béo phì, sâu răng…, hàng trăm triệu người trên thế giới đành nén lòng trước những đồ ăn ngọt đầy cám dỗ đến “chết người”, ngậm ngùi hài lòng thay đường tự nhiên bằng các chất tạo ngọt hoá học như aspartame, saccarin, acesulfame K… Liệu tránh vỏ dưa, có gặp vỏ dừa hay không?

Hàng chục năm qua, các chất ngọt này đã được các cơ quan kiểm duyệt cấp chứng nhận và cho phép thương mại hoá nhưng đến nay chúng vẫn vấp phải sự phản đối gay gắt của rất nhiều nhà nghiên cứu và các chuyên gia độc lập vì những nguy cơ với sức khỏe người tiêu dùng ngày một rõ. Aspartame là một trường hợp tai tiếng nhất, liên quan đến 75% các tác dụng không mong muốn trong các khiếu nại gửi về FDA (Cơ quan quản lý Dược phẩm và Thực phẩm, Mỹ). Nó cũng gây tốn biết bao công sức của các nhà nghiên cứu.

Đội ngũ người tiêu dùng toàn cầu ước tính khoảng 250 triệu, trong đó phụ nữ và trẻ em là hai đối tượng nhạy cảm nhất được các nhà nghiên cứu đặc biệt chú trọng.

Trích ngang tiểu sử của aspartame

Vị ngọt của aspartame được Jame Schlatter (công ty GD Searle, Mỹ) tình cờ phát hiện vào năm 1965. Được lần đầu cho phép sử dụng trong các thực phẩm khô vào ngày 26/07/1974 nhưng sau đó vấp phải sự phản đối của TS. John W. Olney và luật sư bảo vệ người tiêu dùng James Turner vào tháng 08/1974 cũng như là các điều tra nghiên cứu của GD Searle. Do đó FDA đã treo lệnh cấp phép vào tháng 12/1974.

Sau đó aspartame đã được phê duyệt sử dụng cho hàng hóa khô vào năm 1981 và cho đồ uống có gaz vào năm 1983. Năm 1985, Monsanto mua công ty G.D. Searle và xây dựng thương hiệu NutraSweet.

Hiện nay aspartame được thương mại dưới nhiều tên khác nhau: Nutra Sweet, Equal, Spoonful, Aminosweet, Canderel, Sanecta…, và được sử dụng trong khoảng 6.000 sản phẩm thực phẩm, dược phẩm khác nhau. Trong danh sách phụ gia thực phẩm, aspartame mang mã số E951, có mặt trong bánh kẹo, nước trái cây, trong các sản phẩm “không đường” hoặc sản phẩm “light”, “diet”…, kẹo cao su, sữa chua, đường cho người ăn kiêng và ngay cả trong một số thuốc và sản phẩm bổ sung vitamin.

Giá thành rẻ, dễ bảo quản và sử dụng, siêu ngọt aspartame có độ ngọt gấp 200 lần đường tự nhiên. Tuỳ theo nguồn, giá thành của aspartame giao động mạnh, từ khoảng 300.000 đến 700.000 VND/kg. Như vậy, để có độ ngọt tương đương 1kg đường, chỉ cần chi phí khoảng 1.500 đến 3.500 VND, lại gọn nhẹ tiết kiệm hàng loạt chi phí kho bãi…

Mỗi năm, khoảng 15,4 triệu tấn aspartame được tiêu thụ ở quy mô toàn cầu, chiếm khoảng 62% thị trường các chất tạo ngọt.

Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), liều dùng hàng ngày được khuyến cáo là không quá 40mg/1kg thể trọng, tương đương 2,4g/ngày đối với một người nặng 60kg.

Aspartame có gây ung thư và sinh non?

Mặc dù được FDA và EFSA (Uỷ ban an toàn thực phẩm Châu Âu) cho phép sử dụng trong thực phẩm nhưng kết quả nhiều nghiên cứu độc lập đã làm rúng động giới chuyên môn, trong đó phải kể đến hai công trình, một của Ý (1), một của Đan Mạch (2).

Trong nghiên cứu nguy cơ gây ung thư của phụ gia này, do GS. Soffritti thuộc Trung tâm nghiên cứu ung thư Cesare Maltoni (Ý) đứng đầu, được tiến hành trên chuột. Aspartame được đưa vào thức ăn của chuột ở các liều khác nhau cho các nhóm chuột gồm 240 con. Chúng được theo dõi bắt đầu từ giai đoạn bào thai trong tử cung đến khi chết, cho thấy mối liên quan mật thiết giữa việc tiêu thụ aspartame và việc xuất hiện ung thư, nhất là ung thư gan và phổi ở những con đực.

Trong kết luận của bài báo, nhóm nghiên cứu của GS Soffritti khẳng định “aspartame là một chất rất có thể gây ung thư, cho dù ở liều 20mg/kg trọng lượng thân thể, ít hơn nhiều so với liều cho phép hiện nay”. Các tác giả cũng kêu gọi cần KHẨN CẤP xem xét đánh giá lại việc sử dụng aspartame trong thực phẩm.

Ngay sau khi kết quả nghiên cứu trên được công bố, GS Narbonne, nhà nghiên cứu độc học nổi tiếng đã kêu gọi người Pháp ngừng tiêu thụ aspartame và các sản phẩm có chứa chất này. Tại Pháp, aspartame đã được cấp phép vào năm 1988.

Các nhà nghiên cứu Đan Mạch đã tiến hành điều tra trên gần 60.000 phụ nữ mang thai. Kết quả cho thấy, việc tiêu thụ đều đặn dưới 1 lon nước ngọt có gaz chứa chất ngọt hoá học aspartame (dạng soda light) làm tăng 38 % nguy cơ sinh non so với đối tượng không sử dụng. Nếu uống trên 4 lon /ngày, nguy cơ này tăng đến 78%.

Tăng nguy cơ ung thư máu khi uống nước soda có aspartame

Trong một nghiên cứu tiến hành thu thập và phân tích dữ liệu theo dõi trong khoảng thời gian 22 năm với tổng cộng 77.218 phụ nữ và 47.810 nam giới, các tác giả cho thấy, nếu dùng một lon soda mỗi ngày sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư máu (3): Cụ thể,

– Tăng 42% nguy cơ mắc bệnh bạch cầu ở đàn ông và phụ nữ (phân tích gộp)

– Tăng 102% nguy cơ u tủy ở nam giới

– Tăng 31% nguy cơ ung thư hạch bạch huyết không Hodgkin ở nam giới

gần 100 tác động xấu lên sức khỏe

Ngoài ra, nhiều công trình nghiên cứu và phản ảnh của người tiêu dùng cho thấy aspartame có thể gây ra gần 100 tác động phụ khác nhau như đau đầu, chóng mặt, nôn mửa, mất ngủ, mệt mỏi thường xuyên, chuột rút, kinh nguyệt bất thường, chứng bất lực ở nam giới, rối loạn thị giác, rối loạn trí nhớ, bệnh bạch cầu…

Trong cơ thể, aspartame bị thuỷ phân thành ba chất đã tạo nên nó qua tổng hợp hoá học là axit aspartic, phenylalanine và methanol. Cả ba chất trên và sản phẩm chuyển hoá đều có thể gây vấn đề với sức khoẻ của con người.

Nhiều chuyên gia xem aspartate (từ axit aspartic) giống như glutamate (axit glutamic) là chất độc kích thích thần kinh, ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương, thủ phạm của các chứng nhức đầu, mệt mỏi, đau bụng, suyễn, động kinh. Ngoài ra, aspartate cũng có thể làm rối loạn nội tiết và phát sinh các vấn đề về thị lực…

Trong cuốn sách “Excitotoxins: the Taste That Kills” của mình, TS Blaylock xếp aspartate và glutamate thuộc hàng excitotoxin độc nhất, đặc biệt khi chúng đi cùng nhau. Ông tổng hợp kết quả của khoảng 500 nghiên cứu và cho thấy các excitotoxin trên có thể gây ra các rối loạn thần kinh, kích thích quá mức các neuron đến chết. Đối với trẻ em thì màng rào máu não (bảo vệ não khỏi các chất độc) chưa phát triển đầy đủ thì lại càng nhạy cảm.

Đối với phenylalanine, khi dư thừa trong máu, chất này có thể là tác giả của bệnh phenylketonuria (PKU), làm chậm phát triển trí tuệ, tổn hại thần kinh. Cuối cùng là methanol. Methanol được chuyển hoá trong gan tạo thành formaldehyde, một chất độc nổi tiếng, có khả năng gây hư hỏng DNA dẫn đến các nguy cơ chính là ung thư, sinh non, đồng thời gây độc thần kinh với các rối loạn hành vi như quá kích động ở trẻ, gây giảm thị lực, thậm chí mù mắt.

Người tiêu dùng vẫn…ngây thơ: nếu độc sao không cấm?

Độc tố của các phụ gia thực phẩm thường mang tính tích lũy, mưa dầm thấm lâu, chứ không “gây án mạng” ngay lập tức. Chuyện một chất dùng cách đây mấy chục năm, bây giờ mới phát ra có độc cũng không có gì lạ. Bởi vì phương pháp nghiên cứu đã chính xác hơn, thời gian đã tìm ra thêm nhiều nhân chứng vật chứng.

Cùng một chủ đề nhưng kết quả thu từ 2 nguồn tài chính khác nhau ấy (và mức độ khách quan khác nhau) đã cho ra 2 xu hướng khác nhau, ví dụ: độc và không độc.

Tuy nhiên, thông thường các nhà sản xuất phản đối quyết liệt mỗi khi có những kết luận ảnh hưởng đến quyền lợi của họ, cho rằng báo cáo của các nhà chức trách đã luôn kết luận tính không độc hại của aspartame. Rằng các kết luận đưa ra bởi các nghiên cứu trên không phù hợp, không có tính thuyết phục, và họ lại tiếp tục đẩy mạnh quảng cáo.

Người tiêu dùng thì đặt hết hi vọng lên những nhà “chức trách” như FDA, EFSA, WHO… Lý do mà họ đưa ra là: nếu độc thì đã cấm rồi, hoặc, FDA có thể bị mua chuộc, còn các tổ chức khác cũng thế hết sao? Còn WHO, FAO… ai mà “mua” được hết! Vậy là hàng loạt các kết quả nghiên cứu độc lập khác có cũng như không.

Cũng đã có một vài khảo sát cho thấy các công trình nghiên cứu thường có 2 nguồn tài trợ, từ chính phủ hoặc các tổ chức độc lập nào đó hoặc từ chính các nhà công nghiệp trong ngành. Cùng một chủ đề nhưng kết quả thu từ 2 nguồn tài chính khác nhau ấy (và mức độ khách quan khác nhau) đã cho ra 2 xu hướng khác nhau, ví dụ: độc và không độc. Đó cũng là một gợi ý để chúng ta thận trọng khi đặt niềm tin của mình.

Những trường hợp dân kêu cứ kêu, còn chính quyền quyết cứ quyết xưa nay không phải là hiếm. Khi kim tiền và quyền lực lên ngôi đầu thì mọi thứ có thể bị đảo lộn. Theo ý kiến tác giả bài viết: những gì không thuộc về tự nhiên thường không phù hợp với cơ thể con người, vốn 100% tự nhiên. Quay về với thiên nhiên vĩ đại vẫn là con đường đúng đắn!

Đình Vũ

Tài liệu tham khảo:

  1. Morando Soffritti, Fiorella Belpoggi, Marco Manservigi, Eva Tibaldi Michelina Lauriola Laura Falcioni and Luciano Bua. 2010.Aspartame Administered in Feed, Beginning Prenatally Through Life Span, Induces Cancers of the Liver and Lung in Male Swiss Mice. American J of industrial medecine.
  2. Thorhallur I Halldorsson, Marin Strøm, Sesilje B Petersen, and Sjurdur F Olsen. 2010.Intake of artificially sweetened soft drinks and risk of preterm delivery: a prospective cohort study of 59,334 Danish pregnant women. American Society for Nutrition.
  3. Schernhammer ES1Bertrand KABirmann BMSampson LWillett WCFeskanich D. 2012. Consumption of artificial sweetener- and sugar-containing soda and risk of lymphoma and leukemia in men and women. Am J Clin Nutr.

Aspartame (có mã số là E951) là một loại đường hóa học được dùng thay cho đường tự nhiên trong rất nhiều sản phẩm thực phẩm và dược phẩm. Mặc dù được FDA (Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm, Mỹ) cấp phép vào năm 1981 và đến nay vẫn được dùng nhiều nhưng có nhiều nhà nghiên cứu xếp aspartame vào hàng độc đệ nhất trong các phụ gia thực phẩm.

Aspartame là gì?

Aspartame có công thức hoá học là C14H18N2O5, danh pháp quốc tế là N-l-α-Aspartyl-L-phenylalanine l- methyl ester hay 3-amino-N–(α-carboxyphenethyl) succinamic acid N-methyl ester.

Aspartame được thương mại hoá dưới một số tên như Canderel, Equal, NutraSweet, Sanecta, Tri-Sweet, Aminosweet, Spoonful, Sino sweet…

Aspartame có thể kết tinh, bột màu trắng, không mùi. Độ ngọt của aspartame cao gấp 200 lần so với đường tự nhiên. Do vậy, chỉ cần một lượng rất nhỏ aspartame cũng cho độ ngọt tương đương như sử dụng đường mía bình thường. Tuy nhiên, vị ngọt của của aspartame thì hơi khác với vị ngọt của đường kính, chậm hơn lúc đầu, nhưng lại kéo dài lâu hơn. Nếu phối trộn aspartame với acesulfame potassium (acesulfame K) thì cho vị ngọt giống như đường và ngọt hơn đường, nên aspartame thường được dùng kết hợp với acesulfame.

(công thức cấu tạo của aspartame)

Không để lại dư vị hoá chất hoặc vị kim loại khó chịu như một số chất làm ngọt khác, dễ bảo quản và sử dụng, giá thành lại rẻ hơn nhiều so với việc sử dụng đường nên aspartame được sử dụng như một chất phụ gia trong rất nhiều loại thực phẩm, từ bánh kẹo, đồ uống, các sản phẩm “không đường”… đến một số loại thuốc, vitamin bổ sung… Hiện nay, aspartame đã được phép sử dụng rộng rãi tại hơn 125 quốc gia trên thế giới và hiện diện trong khoảng 6.000 sản phẩm.

Trong những thập kỷ vừa qua, người tiêu dùng có tâm lý e ngại ăn nhiều đường sẽ bị tiểu đường, béo phì nên các nhà sản xuất quảng bá các loại đường này rất rầm rộ. Nó được nhiều người kiêng đường, sợ đường dùng để làm ngọt thay thế đường. Cùng từ đó các dòng sản phẩm “light” xuất hiện, ví dụ: coca cola light tức là coca cola ngọt như bình thường nhưng không có đường.

Ở Việt Nam bạn cũng có thể thấy sử dụng trong nhiều mặt hàng khác nhau: nước mắm, nước tương, đường ăn kiêng, bánh ăn kiêng, kẹo cao su, nước giải khát…

Tính độc hại của aspartame

Aspartame là phụ gia thực phẩm tai tiếng hàng đầu. Người ta tính ra có đến 75% khiếu nại, báo cáo gửi về FDA là liên quan đến aspartame với cả 100 tác dụng phụ khác nhau như: chóng mặt, nhức đầu, động kinh, co giật, buồn nôn, mệt mỏi, trầm cảm, tăng cân, nhịp tim nhanh, mất thị lực, hại thính giác, lo lắng, ù tai, ung thư, dị tật bẩm sinh…

Người mắc bệnh tiểu đường và béo phì hi vọng sử dụng đường hóa học để tránh nguy cơ từ đường mía thì hình như nó lại có tác dụng hoàn toàn ngược lại. Béo phì và tiểu đường lại trầm trọng hơn khi sử dụng aspartame.

Liều dùng khuyến cáo

Theo FDA, liều dùng cho phép của aspartame mỗi ngày (ADI) là 40 mg/kg thể trọng.

Ở Việt Nam, theo Quyết định số 3742 /2001/QĐ-BYT ngày 31 tháng 8 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ Y tế, giới hạn tối đa aspartame trong thực phẩm (Maximum level ) của một số loại thực phẩm như sau:

+ Đồ uống có sữa, có hương liệu hoặc lên men (ví dụ: sữa sô cô la, sữa cacao, bia trứng, sữa chua uống, sữa đặc): 600 mg/kg).

+ Kẹo cứng, kẹo mềm, kẹo cao su… : 10.000 mg/kg.

+ Sản phẩm dùng để trang trí thực phẩm: 5.000 mg/kg.

Aspartame không phải là trường hợp đầu tiên bị phản ảnh có nhiều tác dụng phụ mà vẫn được các cơ quan quản lý cho phép. Nhiều câu hỏi đã được đặt ra nhưng chúng ta sẽ bàn về việc này trong một dịp khác.

 

Ngọt hơn sucrose (đường ăn bình thường) khoảng 600 lần, chất tạo vị ngọt nhân tạo sucralose được bán trên thị trường dưới nhiều nhãn hiệu khác nhau, như Splenda, Cukren, Nevella và SucraPlus. Gần đây sucralose bị phát hiện là có những tác dụng làm trầm trọng thêm bệnh tiểu đường ở những người thử nghiệm, mặc dù chất này không chứa calo và được phân vào hàng “chất tạo vị ngọt không dinh dưỡng”.

Xuất bản trên tạp chí Diabetes Care, nghiên cứu mới này được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu thuộc Trung Tâm Dinh Dưỡng Con Người, trường Đại Học Y Khoa Washington, thành phố St. Louis, bang Missouri. Họ đã tiến hành thử nghiệm những tác động chuyển hóa của sucralose ở những đối tượng bị béo phì không sử dụng các “chất tạo vị ngọt không dinh dưỡng”.

17 người tham gia đã trải qua một thí nghiệm dung nạp glucose qua đường miệng kéo dài 5 tiếng trong hai thời điểm riêng biệt, tại mỗi thời điểm đó họ được hoặc cho uống sucralose (thử nghiệm) hoặc uống nước (làm đối chứng) trước khi uống glucose, từng người uống một một cách ngẫu nhiên.

Kết quả cho thấy, một liều sucralose duy nhất dẫn đến tăng đường huyết 6mmol/L, tăng nồng độ insulin lên 20%, tỷ lệ tiết insulin đỉnh cao hơn 22%, và giảm độ thanh thải insulin 7%, một dấu hiệu cho thấy độ nhạy cảm insulin giảm.

Kết luận

Những dữ liệu này chứng tỏ rằng sucralose làm ảnh hưởng đến đường huyết và những đáp ứng của insulin, đối với sự tiêu thụ glucose qua đường uống, ở những người béo phì bình thường không dùng “chất tạo vị ngọt không dinh dưỡng”.

Thảo luận

Mặc dù thực tế rằng các nghiên cứu tiền phê chuẩn về sucralose đã phát hiện ra một khoảng rộng những tác động có hại cho sức khỏe ở những động vật được tiếp xúc với chất này, song các cơ quan quản lý an toàn thực phẩm quốc gia và quốc tế, bao gồm cả FDA, hiện coi chất này hoàn toàn an toàn cho sự tiêu dùng hàng ngày của con người.

Điều tương tự áp dụng cho các chất tạo vị ngọt tổng hợp nhưaspartame, mặc dù nổi tiếng là có liên quan với tổn thương não và hơn 40 tác dụng có hại cho sức khỏe khác đã được ghi nhận, song vẫn được phê chuẩn là an toàn tại 90 quốc gia.

Ảnh hưởng của ngành công nghiệp giải thích rằng việc các chất hóa học tổng hợp như asparatame, neotame, saccharin và sucralose đang được lén lút đưa vào công chúng như những chất tạo vị ngọt không calo “an toàn”, mặc cho có những nghiên cứu chỉ ra điều ngược lại, và thực tế rằng stevia, một chất thay thế tự nhiên không calo, đã được sử dụng an toàn trên 1500 năm.

Hiệp hội tiểu đường Hoa Kỳ (ADA), lấy ví dụ, không cần che dấu mối quan hệ hợp tác rõ ràng với McNeil Nutritionals, nhà sản xuất Splenda, dù mối quan tâm của cả hai là mâu thuẫn với nhau. Trên trang web của mình, ADA mô tả McNeil Nutritionals như một “đối tác chiến lược quốc gia”, và khen ngợi họ là “tận tâm giúp mọi người và gia đình đối phó với bệnh tiểu đường bằng cách tập trung vào toàn bộ những nhu cầu dinh dưỡng của cộng đồng tiểu đường”. McNeil Nutritionals tài trợ cho chương trình “Thực đơn của Ngày” của ADA, cùng với với một loạt các công cụ giáo dục và thông tin cho người tiêu dùng và các chuyên gia sức khỏe.

Bất chấp những mối quan hệ ấm cúng này, nghiên cứu về tác động có hại của sucralose ngày một nhiều. Một vài nghiên cứu gần đây hơn cho thấy chất này có thể góp phần vào những vấn đề sức khỏe và môi trường dưới đây

Bệnh viêm ruột (IBD): Một nhà nghiên cứu thuộc trường Đại học Y và Nha khoa New Jersay (UMDNJ) kiến nghị rằng sucralose có thể gây nên sự gia tăng các trường hợp bị hội chứng ruột kích thích (IBS) trên phạm vi toàn cầu, bao gồm cả hai thể bệnh là viêm loét đại tràng và bệnh Crohn. Trong một bài báo có tựa đề: “Điều gì khiến Canada trở thành một quốc gia có tỉ lệ mắc bệnh viêm ruột cao nhất: có thểsucralose là thủ phạm?”, tác giả Xiaofa Qin mô tả Canada, từng là một trong những nước có tỉ lệ mắc IBS thấp nhất trên thế giới, đã đạt tới mức độ cao nhất như thế nào sau khi là nước đầu tiên trên thế giới chấp thuận cho sử dụng sucralose trong hàng ngàn sản phẩm tiêu dùng vào năm 1991.

Làm hại hệ vi khuẩn đường ruột và sức khỏe hệ tiêu hóa: Một nghiên cứu năm 2008 phát hiện rằng, khi cho chuột dùng sucralose với liều lượng thấp hơn nhiều so với mức dùng hàng ngày mà FDA (Mỹ) công bố, đã cho ra kết quả:
1) sự giảm số lượng của nhiều loại vi khuẩn có lợi cho đường ruột.
2) “pH phân tăng”.
3) “mức độ hoạt động của P-gp, CYP3A4, và CYP2D1 tăng cao, các chất này được biết là có tác dụng hạn chế sinh khả dụng của những thuốc uống vào”.

Đau nửa đầu: Một báo cáo được xuất bản trên tạp chí Headache (đau đầu) năm 2006 trình bày ngắn gọn rằng các thầy thuốc nên lưu tâm về khả năng gây đau nửa đầu của sucralose.

Bền trong môi trường: Như nhiều chất gây ô nhiễm hữu cơ dai dẳng trong nhóm thuốc trừ sâu, sucralose đặc biệt bền trước sự phân rã, kể cả thông qua các chu trình của môi trường (sự hấp thụ của đất, thủy phân, hấp phụ của đất) và các quy trình xử lý sâu (khử bằng clo, xử lý bằng ozone, hấp phụ bằng than hoạt tính, và xử lý bằng tia UV). Xét cho cùng, sucralose được phát hiện tình cở bởi các nhà nghiên cứu thuốc trừ sâu, và là hóa chất có liên quan với DDT, một hydrocacbon clo hóa. Một vài nhà nghiên cứu hiện coi đây là một chất lý tưởng “đánh dấu các hoạt động nghiên cứu nguồn gốc và sự phát triển của con người”, vốn có độ chính xác như những chất đồng vị phóng xạ chết người là uranium 238 và plutonium 239, đó là nhờ tính bền vững trước sự phân rã. Quả vậy, nghiên cứu gần đâu phát hiện thấy sucralose có tỷ lệ tẩy thấp (11%) trong nước uống được kiểm tra, và hiện đang phục vụ cho 28 triệu người.

Độc đối với môi trường: Sucralose gần đây được phát hiện làm biến đổi trạng thái hành vi và sinh lý của động vật giáp xác, khiến các nhà khoa học cảnh báo rằng hóa chất này khả năng sẽ đem đến những hệ quả sinh thái rộng lớn hơn.

Nguồn: www.GreenMedInfo.com.

Advertisements
This entry was posted in Health. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s